Tác Giả-Tác Phẩm: Geisha, kỹ nữ Nhật Bản qua tài liệu và phim ảnh

Back Next
Geisha, kỹ nữ Nhật Bản qua tài liệu và phim ảnh
Phạm Văn Bân

1. Dẫn nhập Sau khi tốt nghiệp môn Nghệ Thuật Nhật Bản và Lịch Sử ở Harvard và Columbia, Arthur Golden bỏ ra hơn 10 năm sưu tầm về các sinh hoạt của thế giới geisha, đồng thời thực sự trải qua huấn luyện khổ nhọc nhằm sở đắc một cách thành thạo các khả năng của một geisha chuyên nghiệp.

Năm 1997 Arthur Golden cho phát hành cuốn tiểu thuyết Hồi ký của một kỹ nữ (Memoirs Of A Geisha), trong đó phần lớn cốt truyện dựa vào sinh hoạt có thực của kỹ nữ Mineko Iwasaki, người có nhiều năm kinh nghiệm phục vụ giới giàu có và nổi tiếng Nhật Bản.

Cuốn Hồi ký của một kỹ nữ được phóng tác thành phim, đã trình chiếu khắp nơi tại Hoa Kỳ trong tháng 12, 2005 và vẫn còn tiếp tục trong tháng 1, 2006. Phim này do Steven Spielberg sản xuất và Rob Marshall đạo diễn. Các vai chính là Chương Tử Di, Củng Lợi, Michelle Yeoh và Ken Watanabe. Cần ghi nhận ở đây là các vai nữ không có ai là người Nhật Bản.

Sau khi cuốn Hồi ký của một kỹ nữ được phát hành và quay thành phim, Arthur Golden bị người kỹ nữ mà ông dùng làm nhân vật chính trong sách kiện ra tòa về tội phỉ báng và bội tín. Thể theo lời buộc tội của nguyên cáo thì tên của nhân vật chính đã được thỏa thuận là phải ẩn danh để giữ bí mật theo luật giang hồ của giới kỹ nữ. Điều này không được Arthur Golden tôn trọng và vì vậy, ngay khi tên của Chương Tử Di trong vai kỹ nữ Sayuri người kỹ nữ in ra trên sách, cô đã bị hăm dọa thủ tiêu cũng như bị yêu cầu phải mổ bụng tự sát vì làm mất danh dự nghề nghiệp. Tuy nhiên, cô chọn phương cách đưa Arthur Golden ra tòa. Vụ án hiện đang tranh tụng.

Giới kỹ nữ Nhật Bản quốc được thế giới chú ý bởi vì họ có quá nhiều điểm độc đáo - độc đáo đến nỗi khó mà duy trì được trong thực tế. Ngày nay, hầu như nghề này chỉ có tính cách biểu tượng mà thôi! Dưới đây là các nét chính về ngành kỹ nữ xứ Phù Tang và phần điểm qua phim Memoirs Of A Geisha.

2. Đặc điểm của geisha

Tiếng Geisha, được mọi người dùng nhiều hơn là Geiko, xuất phát từ vùng Tokyo; trong khi Geiko là một tên gọi khác của Geisha, xuất phát từ Kyoto.

Geisha dịch theo nguyên ngữ tiếng Nhật là "nghệ nhân" (gei = nghệ thuật, sha = người), dùng để chỉ người phụ nữ được huấn luyện về các nghệ thuật cổ truyền của Nhật như: đàn, ca, ngâm họa thơ, vũ, pha trà, cắm hoa, nói chuyện tiêu khiển cho nam nhân, v.v., tương tự như ả đào Việt Nam. Căn cứ theo nghĩa trong tiếng Nhật, có thể dùng tiếng Hán Việt để gọi geisha là nghệ thuật nữ nhân, nghĩa là "người nữ hiểu biết nghệ thuật và có thể trình diễn nghệ thuật."

Những năm gần đây, nhiều người bảo trợ đua nhau chi tiền mua quà và bảo trợ geisha để được là người đầu tiên ăn ngủ với maiko - tức người tập việc làm geisha. Việc này đã mang lại ấn tượng rằng geisha là gái điếm. Vấn đề tùy thuộc vào mỗi geisha muốn giao thiệp với người bảo trợ như thế nào. Không hẳn geisha sẽ chấp thuận ăn ngủ với khách vì được trả tiền. Trong thực tế, geisha có thể xem đó là một xúc phạm nghiêm trọng, và có thể từ chối không tiếp người khách đó: một trong các nguyên tắc được nhấn mạnh khi huấn luyện geisha là họ phải luôn luôn tự cảnh giác để không được nảy sinh tình yêu đối với bất cứ khách nào.

Geisha không phải là gái điếm. Arthur Golden cho rằng geisha bán kỹ năng chứ không bán thân. Geisha chắc chắn phải đẹp và hấp dẫn nhưng mục tiêu nghề nghiệp chính của họ không phải là ăn ngủ với khách để kiếm tiền. Tuy nhiên, giống như các chiêu đãi viên khắp nơi, nhiều geisha cuối cùng sẽ kiếm một người bảo trợ (danna) để làm "thần hộ mạng." Người bảo trợ của geisha chính là người đầu tiên phá trinh của cô, và cũng là người sẽ chăm lo các vấn đề tài chính cho cô suốt đời.

Trên lý thuyết, không có người đàn ông nào -ngoài người bảo trợ- được phép công khai ăn ngủ với geisha. Người bảo trợ hoàn toàn không có một ràng buộc nào khi ăn ngủ với geisha. Họ có thể hoặc đã có vợ, hoặc không cưới geisha hoặc xem geisha là vợ bé. Vào lúc ban đầu, nhiều cô gái ở vùng quê Nhật Bản bị bán làm geisha và trinh tiết của họ được mang ra bán đấu giá (gọi là mizuage). Nhưng sau đó, họ không bị bắt buộc phải ăn ngủ với bất cứ khách chơi nào, ngay cả người đã trả tiền mua trinh tiết của họ. Ngày nay, tập tục mizuage đã thuộc về dĩ vãng. Geisha không còn bị mua hoặc dẫn vào kỹ nữ quán vào lúc tuổi còn nhỏ nữa; mà trái lại, muốn học nghề geisha là hoàn toàn tự ý và phụ nữ không nhất thiết phải nhỏ tuổi mới được huấn luyện nghề nghiệp.

Trong hầu hết các lễ lạc, geisha thường có người tập việc maiko đi kèm theo, cả hai đều mặc kimono. Do đó, người ta cần phân biệt maiko và geisha. Điểm khác biệt y phục rõ ràng nhất giữa hai người là chiều dài tay áo và chiều dài của dây thắt lưng (obi/sash): tay áo của maiko dài hơn và dây thắt lưng dài gần chấm đất. Trong thực tế, họ mặc như thế nào thì tùy theo loại lễ và cũng tùy theo yêu cầu của khách. Khách có thể yêu cầu geisha mặc đầy đủ lễ phục kimono và trang điểm phấn trắng - lẽ tất nhiên, cứ thêm mục nào là khách trả thêm tiền cho mục đó.

Geisha có người phụ giúp đánh phấn, mặc kimono và đội bộ tóc giả. Trước hết họ rửa mặt thật sạch, kế đó họ bôi lên mặt một lớp phấn rít làm nền. Rồi họ mới bôi phấn trắng lên, sau đó mới vẽ lông mày, mắt và môi. Còn tóc thật thì buộc ra phía sau. Bộ tóc giả được đặt lên trên tóc thật và buộc chặt: nó khá nặng và nếu không quen, người ta có thể bị nhức đầu sau một giờ đội đầu tóc giả! Tùy theo phẩm chất mà giá của một bộ tóc giả có thể lên đến hàng chục ngàn dollars. Hình dưới đây cho thấy quy cách trang điểm khác nhau giữa maiko và geisha:





Có lẽ vì không quen thuộc với giới buôn hương, bán phấn Nhật Bản nên nhiều người Tây phương đã hiểu lầm geisha là gái điếm (oiran). Đúng ra, oiran là đẳng cấp cao nhất cao nhất trong hàng ngũ gái điếm, tạm gọi là gái điếm hạng sang. Geisha thường làm việc song song với oiran, nhưng luật không cho phép cạnh tranh lẫn nhau. Trong bối cảnh lả lơi đàng điếm, kể ra cũng khó mà phân biệt nhưng cứ trên lý thuyết mà nói thì hình dáng và trang phục giữa Maiko, Geisha và Oiran rất khác nhau, không thể lầm lẫn được. Thí dụ: Oiran có kiểu tóc lạ lùng, sáng tạo và rực rỡ, rất khác với các kiểu tóc đơn giản của geisha như: Shimada-mage, Wareshinobu hay Ofuku. Về trang phục thì oiran thường mặc kimono được thêu đan cầu kỳ và có tới 3-5 lớp vải! Ngoài ra, họ còn trang điểm thêm các hộp nữ trang với các dây thắt diêm dúa.

Nhầm lẫn giữa geisha và oiran xuất phát từ lính Mỹ đóng ở Nhật sau đệ nhị thế chiến. Nguyên khi trở về nước, lính Mỹ thêu dệt nhiều chuyện hoang đường về "Gee-sha Girls", trong đó phần lớn không phải là chuyện thật về geisha mà chỉ là chuyện của các gái điếm mạo danh là "geisha" để lừa gạt. Rất hiếm lính Mỹ có đủ tiền và dám chi để được gặp geisha thật. Họ chỉ ... ước mơ mà thôi! Khác biệt bên ngoài giữa Maiko, Geisha và Oiran:





Maiko và geisha là chiêu đãi viên hạng sang. Ngôn ngữ của họ được sàng lọc kỹ lưỡng và rất thông minh, xuất phát từ việc huấn luyện và việc giải trí cho các viên chức cao cấp Nhật Bản như: CEOs, chính trị gia, nghệ sĩ, v.v. Một bữa dạ tiệc có maiko và geisha hầu chuyện và phục vụ trà nước có thể tốn trên $US 10,000.

3. Kỹ năng của geisha

Ở Tàu, Việt Nam hay bất cứ nơi nào, bất cứ xưa hay nay, một khi làm kỹ nữ thì phải học và tập một số thủ thuật để hành nghề. Như Tú bà đã nói rõ trong Truyện Kiều:

Này con thuộc lấy làm lòng,
Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề
Chơi cho liễu chán, hoa chê
Đủ điều lịch sự mới mê được người
Khi khóe hạnh, khi nét ngài,
Khi ngâm ngợi nguyệt, khi cười cợt hoa
Đều là nghề nghiệp trong nhà,
Đủ ngần ấy nét, mới là người soi

Kỹ nữ xứ Phù Tang không phải là ngoại lệ, mà trái lại, có thể nói họ là những chuyên viên thượng thặng nhất, cự phách nhất trong thế giới hoa liễu! Họ phải có thể sở đắc một cách nhuần nhuyễn rất nhiều kỹ thuật đòi hỏi phải tập luyện ngay từ lúc 13, 14 tuổi để có thể hành nghề khi 18 tuổi trở lên, kể cả các tài khéo khi làm tình. Mọi cử chỉ đi, đứng, nghiêng đầu, kéo cửa, ăn, nói, v.v. đều phải học kỹ lưỡng. Đại loại kỹ nữ sẽ được dạy các kỹ thuật sau đây:

a) Phục vụ trà:

Người kỹ nữ phải biết cách rót trà, cách vén tay áo để rót trà, cũng như được dạy về trà đạo (chadō 茶 道), tức là lý thuyết về các nghi lễ trà để có thể gợi chuyện với khách và hành xử thích hợp. Đặc biệt là họ phải hiểu biết về trà sự (cha-ji 茶 事), tức là một nghi lễ trà đầy đủ, bao gồm một bữa ăn nhẹ (kaiseki), trà lạt (usuicha) và trà đậm (koicha), kéo dài khoảng bốn giờ. Trà hội (chakai 茶 会), giống như trà sự nhưng không có bữa ăn nhẹ. Khi uống trà, ngay cả khách cũng phải biết nghi thức uống trà cùng các câu nói thỏa đáng.

b) Sinh Hoa (Ikebana 生 花) là nghệ thuật cắm hoa Nhật Bản, còn gọi là hoa đạo (viết 華 道 hay 花 道 đều đúng, mặc dù nghĩa có khác chút đỉnh). Trái với cách cắm hoa chỉ để trang trí của phương Tây, nghệ thuật cắm hoa Nhật Bản nhằm tạo nên một sự hòa hợp về nhịp điệu và màu sắc của hoa. Trong khi phương Tây quan tâm về số lượng và màu sắc của hoa, chú trọng đến vẻ đẹp của hoa khi nở thì người Nhật lại quan tâm nhiều đến đường nét cắm hoa để phản ảnh quan điểm tam hòa: thiên, địa và nhân. Hoa đạo không những dạy cho kỹ nữ, mà còn dạy cho tất cả phụ nữ Nhật Bản. Ngày nay, hoa đạo là một trong các bộ môn nghệ thuật có tính cách truyền thống và được đại chúng Nhật Bản hết sức ưa chuộng.

c) Đàn và Ca:

Nói đến geisha thì phải nói đến cây đàn Nhật, gọi là shamisen hay samisen (tam muội tuyến 三 味 線 ). Tam Muội Tuyến là một cây đàn có ba dây, gảy với một phím đàn khá lớn (bachi), chiều dài tương tự như cây tây ban cầm nhưng cổ đàn mỏng hơn, da đàn làm bằng da mèo hay chó. Tam Muội Tuyến có thể chơi độc tấu hoặc với các tam muội tuyến khác, cũng như có thể hòa âm với các nhạc cụ khác. Theo truyền thống, cả nam và nữ đều đàn tam muội tuyến. Âm thanh của tam muội tuyến tương tự như banjo, dùng một cái trống, gọi là "dou", để làm vang âm thanh do ba dây đàn tạo ra.

Geisha bắt buộc phải biết chơi đàn tam muội tuyến, và hát các bài hát dài (nagauta) hoặc ngắn (kouta). Đầu thế kỷ thứ 20, một nhạc sĩ mù tên Chikuzan Takahashi, ở Tsugaru thuộc phía Bắc của đảo Bản Châu , khai triển một phong cách mới để chơi loại nhạc dân dã cổ truyền, gọi là Tsugaru-jamisen. Ngày nay phong cách Tsugaru-jamisen rất phổ biến tại Nhật Bản.

d) Vũ:

Geisha được huấn luyện kỹ càng về múa. Đa số đều phải biết múa các vũ điệu cổ truyền Nhật Bản (nihon buyo), vũ điệu tsurukame (tức là hạc và rùa, tiêu biểu cho trường thọ) và các vũ điệu nổi tiếng như Fujimusume và Sakura.

4. Sinh hoạt ngày nay của giới geisha tại Nhật Bản

Các xóm geisha được người Nhật gọi là hanamachi, dịch theo nghĩa của từng chữ là xóm hoa (hana = hoa, machi = xóm, tỉnh).

Ngày nay có sáu hanamachi nổi tiếng tại Kyoto, trong đó tập hợp ngũ hoa xóm gồm có: Gion Kobu, Gion Higashi, Miyagawacho, Kamishichiken và Pontocho. Hanamachi thứ sáu là khu khoái lạc cổ của Kyoto, quán Shimabara, không còn hoạt động nữa nhưng được mở cửa cho công chúng vào xem. Gion là quận geisha nổi tiếng nhất của Kyoto, chia làm hai phường geisha: một nằm về phía Đông và một về phía Tây (phường Trà Quán). Phường Geisha phía Đông lớn và đẹp hơn phía Tây.

Để biết về một Gion truyền thống, người ta cần phải đi bộ dọc theo con đường Hanami-koji đầy các kiến trúc cổ đẹp, trà quán và nhà hàng. Yasaka Shrine và hí viện Minamiza là các tụ điểm thu hút du khách. Gần đây, mặc y phục giả làm maiko hay geisha để chụp hình là việc được du khách ưa chuộng - kể cả người Nhật đến thăm viếng Kyoto. Nếu trả thêm tiền, bạn có thể giả làm maiko hay geisha đi ra ngoài, lang thang trong Kyoto cả giờ. Tuy nhiên, người ta có thể sẽ chặn bạn lại để xin chụp hình và vì thế, bạn khó mà đi chơi thoải mái. Nếu muốn chắc chắn gặp maiko và geisha thực, bạn nên đến hí viện Gion Kaburenjo, vào khoảng tháng 4, tức là mùa hoa anh đào nở (Sakura).

Geisha không còn mang tính chất đại chúng giống như 100 năm trước đây mà thực sự được xem là nghệ sĩ để bảo tồn các bộ môn nghệ thuật cổ truyền Nhật Bản như: vũ, nhạc khí cổ truyền, bài hát cổ truyền, mặc kimono đẹp tuyệt vời, trang điểm bằng phấn trắng, v.v. Geisha cũng không có nhiều ảnh hưởng trong thời trang ngày nay bởi vì sẽ rất khó mà mặc kimono mỗi ngày và vì không có nhiều geisha để so sánh quần áo với nhau.

5. Điểm phim Memoirs of a Geisha

a)Truyện phim:

Thời điểm là năm 1929 tại Nhật Bản. Cuốn Memoirs Of A Geisha thuật lại câu chuyện lưu lạc của một bé gái 9 tuổi tên Chiyo, con của một người đánh cá nghèo ở Yoroido, một làng đánh cá nhỏ ở Nhật. Cả Chiyo và cô chị đều bị cha bán cho bọn ma cô ở cố đô Nhật Bản, Kyoto - Chiyo rơi vào quán geisha (okiya) và cô chị lọt vào động điếm.

Ngay từ lúc còn là một bé gái, Chiyo đã bị phiền toái vì đôi mắt xám đẹp lạ lùng! Đôi mắt đó đã tạo nên đố kỵ của geisha Hatsumomo (Củng Lợi), một người rất đẹp nhưng cũng rất gian ác. Hatsumomo làm ngơ, không huấn luyện Chiyo. Thêm vào đó, với hành động bỏ trốn của Chiyo nên người ta bắt buộc phải chấm dứt việc huấn luyện Chiyo thành geisha, và nay Chiyo chỉ là một người tôi tớ. Đang buồn bã và thất vọng với cuộc sống tương lai thì Chiyo gặp "Chủ Tịch" Iwamura Ken (Ken Watanabe) khiến mọi việc thay đổi, mang lại hy vọng và phấn khởi mới. Được phục hồi, và với sự giúp đỡ của Mahema (Michelle Yeoh), một geisha đối thủ của Hatsumomo, Chiyo nay có tên là Nitta Sayuri (Chương Tử Di), bắt đầu vươn lên qua việc học tập các kỹ năng khó khăn của một geisha như: múa, hát, cách mặc kimono, trang điểm mặt và tóc, rót rượu, ngay cả thủ đoạn đối phó với đồng nghiệp, v.v. để cuối cùng trở nên một geisha nổi tiếng nhất ở quận Gion, Kyoto.

Sayuri đã thành công lớn qua hai thử thách cực kỳ quan trọng cho một geisha: vụ bán đấu giá trinh tiết của Sayuri (với một giá kỷ lục), và vụ kiếm người bảo trợ tài chính suốt đời cho Sayuri.

Ý thức được ảnh hưởng của quân phiệt Nhật, Mameha ghép Sayuri với viên tướng chỉ huy quân đội để có được nhiều đặc quyền cho quán geisha của mình. Sau đệ nhị thế chiến, viên tướng này chết và do có nhiều người ghen tức, Sayuri chán nản và chỉ khao khát gặp lại người yêu duy nhất của cô - người chủ tịch một công ty điện đã có lòng tốt mua kẹo cho cô bé Chiyo năm nào ... Hầu như không thể nào gặp lại nhưng kết cuộc, giấc mơ của Sayuri trở thành sự thực.

b) Nhận xét:

Theo tin tức báo chí, hầu hết các quán geisha ở Gion đã từ chối không cho mượn cảnh để quay phim vì e rằng phim Memoirs Of A Geisha sẽ là một trò cười giống như phim The Last Samurai do Tom Cruise đóng vai chính. Do đó, người ta phải quay phim với cảnh tạo dựng ở Mỹ. Tôi hoàn toàn đồng ý: đây hoặc là một sự chế diễu rất thô tục, hoặc là một biểu hiện kém hiểu biết về geisha của đạo diễn của Rob Marshall.

Ngoài vài hoạt cảnh hấp dẫn khán giả như buổi trình diễn bán đấu giá trinh tiết theo tập tục mizuage, học múa, và biểu diễn múa dưới mưa tuyết thì phim không có tính chất sôi động cho khán giả Mỹ vốn thiếu kiên nhẫn và ưa thích gay cấn, bạo động. Vì vậy, hy vọng "xâm chiếm" thị trường phim ảnh Hollywood - qua ba đại minh tinh Chương Tử Di, Củng Lợi và Michelle Yeoh - có thể bị thất bại ê chề. Phim Memoirs Of A Geisha còn có một vài thiếu sót tai hại như:

*truyền thống vẽ mặt trắng phếu bị bỏ qua, có lẽ vì sợ sẽ làm khán giả Mỹ hãi hùng chăng?

*không có phần biểu diễn đàn samisen, vốn như bóng với hình với người ca kỹ geisha.

Coi trọn phim nhưng tôi không sao nhận ra tính chất độc đáo của giới geisha Nhật Bản, mà ngược lại, với các đoạn cuối của phim, đầu óc tôi chỉ còn lưu lại những hình ảnh giải trí tồi bại và tình dục hạ cấp kiểu Mỹ!

Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh,
Giật mình, mình lại thương mình xót xa.
Khi sao phong gấm rủ là,
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường
Mặt sao dày gió dạn sương,
Thân sao bướm chán, ong chường bấy thân ?

Tháng 1, 2006
Phạm Văn Bân

Back Next