Tác Giả-Tác Phẩm: TẢN ĐÀ - SUỐI KHÔ GIÒNG LỆ CHỜ MONG

Back Next
TẢN ĐÀ - SUỐI KHÔ GIÒNG LỆ CHỜ MONG
THÁI TÚ HẠP

Khi chúng ta đang còn sống trên xứ sở quê hương, giữa các trào lưu văn học thế giới tràn ngập vào tâm hồn lớp trẻ trí thức hết đợt sóng hiện đại này đến những ý thức mới của văn học và triết học khác, thực sự mấy ai còn nhắc nhở đến Tản Đà, Hồ Biểu Chánh, Phạm Quỳnh, Á Nam Trần Tuấn Khải, Tương Phố, Đông Hồ, Phan Huy Ích, Hồ Xuân Hương, Chu Mạnh Trinh, Bà Huyện Thanh Quan... Đa số đã chạy đuổi theo những trang sách của Heidegger, Apollinaire, William Saroyan, Henry Miller, Alexis Zorba, Sartre... chắc chắn ảnh hưởng chỗ đứng của các tiên sinh tiền bối thuở Thịnh Đường như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Thôi Hạo, Lý Thượng Ẩn... lại càng bị đẩy lùi ra "xa lộ" văn học Việt Nam cuối thế kỷ hai mươi. Trong một sát-na xúc động tình cờ trong đời sống nơi viễn xứ, tôi chợt khám phá nguyên ủy lưu vong của loài rong rêu trên giòng thác cuồn cuộn đổ từ ngọn đỉnh non cao. Chúng tôi cảm thấy khổ đau mỗi khi cố gắng bắt đầu khép kín những nhung nhớ cố hương. Với sức lực của con ngựa già, không vượt nổi qua những chặng đồi núi phong ba của nhân thế, để phóng tới cánh đồng thảo nguyên tương lai. Mùa xuân đến nơi đất khách, nhưng tâm sự người lưu vong vẫn não nề, cái tâm sự mà TẢN ĐÀ NGUYỄN KHẮC HIẾU đã cảm nhận từ hơn năm mươi năm trước như những lời tiên tri:

...Nước Non nặng một lời thề

Nước đi, đi mãi không về cùng non

Nhớ lời nguyện Nước cùng Non

Nước đi chưa lại non còn đứng không

Non cao những ngóng cùng trông

Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày

Xương mai một nắm hao gầy

Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương

Trời tây bóng ngả tà dương...

Tản Đà đã gợi lên sự thực đau lòng đó, nhưng ông vẫn tin rằng trong vận chuyển Ngũ Hành, chu kỳ sinh diệt là lẽ tất nhiên của Tạo Hóa. Nỗi tư duy thần diệu nhất, Tản Đà đã biểu hiện cái tính chất "nước đi ra bể lại mưa về nguồn" kết hợp được triết học Đông Phương và khoa học vật lý Tây Phương: Nước đi ra biển, nhờ nắng bốc thành hơi bay về núi gặp khí lạnh gió thổi tan thành mưa. Cứ thế, từ thế kỷ này qua thế kỷ khác nhịp nhàng vi diệu trong sinh hóa của vũ trụ:

Non xanh tuổi vẫn chưa già

Non thời nhớ nước, nước mà quên non

Dù cho sông cạn đá mòn

Còn non còn nước hãy còn thề xưa

Non xanh đã biết hay chưa

Non đi ra biển lại mưa về nguồn

Nước non hội ngộ còn luôn

Bảo cho non nước có buồn làm chi

Nước kia dù hãy còn đi

Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui

Nghìn năm giao ước kết đôi

Non non nước nước chưa nguôi lời thề... (Thề Non Nước)

Đề cập đến công trình văn học đóng góp vào sự nghiệp văn hóa dân tộc Việt Nam của Tản Đà quả thật không nhỏ. Mặc dù Tản Đà xuất hiện giữa thời đại giao mùa của trào lưu văn học cũ và mới. Thời kỳ mà sở học Hán và Nôm đang bị đẩy lùi vào hậu trường sân khấu trong mọi sinh hoạt văn chương nghệ thuật. Hình ảnh của những ông đồ già nuối tiếc một thời vang bóng hiện lên như một bức tranh cô đơn buồn bã tội nghiệp:

Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua

Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay

Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu
Giấy đỏ không buồn thắm
Mực đọng trong nghiên sầu...
Ông đồ vẫn ngồi đấy
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài trời mưa bụi bay

Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ
(Ông Đồ - Vũ Đình Liên)

Tuy nhiên, sự hình thành của giòng văn học Hán - Nôm khi khoa cử ở thời kỳ phục hưng, sự thực không ai có thể phủ nhận những công trình sáng tạo của một số nhà văn nhà thơ Việt Nam với những tác phẩm lừng lẫy cho mãi đến bây giờ chưa chắc có được những tác phẩm nào xứng đáng để thay thế. Như "Đoạn Trường Tân Thanh" của thi hào Nguyễn Du, "Lục Vân Tiên" của Nguyễn Đình Chiểu, "Chinh Phụ Ngâm" của Đoàn Thị Điểm, Đặng Trần Côn. Những thi tài vượt bật như Hồ Xuân Hương, Chu Mạnh Trinh, Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Trái, Nguyễn Khuyến, Cao Bá Quát, Tú Xương...

Đến khoảng thời gian đầu thế kỷ 20 từ khoảng năm 1913 đến 1917, nền văn học Việt Nam đã bắt đầu ảnh hưởng bởi giòng văn học Tây Phương, từ đó như vết dầu loang tỏa rộng ra khắp nước và tạo thành những trào lưu văn học mạnh mẽ đến năm 1930, lừng lẫy tạo những thành tích đáng kể từ năm 1930 - 1945. Tiêu biểu những lực lượng nòng cốt của trào lưu văn học mới có Phạm Quỳnh, Phan Khôi, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Vũ Đình Liên. Xuân Diệu, Huy Cận... và nhóm Tự Lực Văn Đoàn của Nhất Linh Nguyễn Tường Tam được xem là những cây bút tiền phong tiến công vào thành trì, phá vỡ những hủ hóa đầy phong kiến của xã hội cũ. Khi con đê đã phá sập, giòng nước tuôn trào, các tư tưởng tây phương xâm nhập vào lớp trẻ trí thức Việt Nam như Lamartine, La Fontaine, André Maurois, Mallarmé... Có lẽ ngán ngẩm cho thế sự đổi thay đến nỗi Thi sĩ Trần Tế Xương phải than thở một cách chua cay:

Nào có ra gì cái chữ Nho
Ông Nghè, ông Cống cũng nằm co
Chi bằng đi học làm ông Phán
Tối rượu sâm banh, sáng sữa bò...

Tản Đà cũng cảm thấy chán nản nhưng không bi quan với khả năng cầu tiến nên ông cũng cố nghe theo lời khuyên đầy cay đắng của Trần Tế Xương theo học sách Âu Tây qua người Hoa dịch, gọi là Tân Thư, để mong kiếm thêm chút vốn liếng Tây học, kiếm gạo nuôi vợ con:

Mười mấy năm trời ngọn bút lông
Thảnh thơi chẳng bợn chút hơi đồng
Bây giờ anh đổi lông ra sắt
Cách kiếm ăn đời có nhọn không

...Hôm qua chưa có tiền nhà
Suốt đêm thơ nghĩ chẳng ra câu nào
Đi ra rồi lại đi vào
Quẩn quanh chỉ tốn thuốc lào vì thơ!

Mặc dù cuộc sống cơ hàn gánh nặng gia đình, vợ con, nhưng Tản Đà luôn luôn giữ tiết tháo một nhà thơ, nhà báo có tư cách, luôn đề cao tinh thần yêu nước. "Trong thời gian vất vả nhất về tài chính là thời gian hơn tám năm ròng rã, Tản Đà xuôi ngược Hà Nội, Nam Định, vào Vinh rồi trở về Hàng Bông để vận động An Nam Tạp Chí một cách tích cực, nhưng chỉ phát hành cầm chừng tạp chí này. Cuối cùng An Nam Tạp Chí bị đóng cửa vĩnh viễn, Tản Đà thác lời Hàn Thuyên: Than ôi! An Nam tạp chí mà đến nỗi phải đình bản, thời còn gì là An Nam!" (Văn Xã, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu). Từ đó Tản Đà như người thất chí mượn rượu tiêu sầu.

Say sưa nghĩ cũng hư đời
Hư thời hư vậy, say thời cứ say
Đất say, đất cũng lăn quay
Trời say, mặt cũng đỏ gay, ai cười?
...Giấc mộng mười năm đã tỉnh rồi
Tỉnh rồi lại muốn mộng mà chơi
Nghĩ đời lắm nỗi không bằng mộng
Tiếc mộng bao nhiêu lại chán đời
Những lúc canh gà ba cốc rượu
Vài khi cánh điệp bốn phương trời
Tìm đâu cho thấy người trong mộng
Mộng cũ mê đường biết hỏi ai?
(Nhớ Mộng)

Đôi khi người đời không biết Tản Đà say rượu, say mộng hay là say thơ? Chính ông cũng không phân biệt cảnh đời, cảnh mộng và cảnh tiên. Mộng và thực lẫn lộn trong đời sống đầy phiền não vì phải tranh đấu miếng cơm manh áo nuôi cái thân xác tạm bợ nơi cõi trần thế. Ông cảm thấy lạc lõng chơ vơ giữa cuộc đời đầy buồn bã thê lương:

Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi
Trần thế em nay chán nửa rồi
Cung quế có ai ngồi đó chửa?
Cành đa xin chị nhắc lên chơi
Có bầu có bạn can chi tủi
Cùng gió cùng trăng thế mới vui
Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám
Tự nhau trông xuống thế gian cười... (Muốn Làm Thằng Cuội)

Không biết cảnh Thiên Thai có thực như câu chuyện Lưu Nguyễn ngày xưa? Hay chỉ là dấu vết giác ngộ quay về của tâm thức sĩ phu? Để nhìn thấy những nguyên thủy không còn nữa, mặc dù lòng thủy chung vẫn trọn đầy trong trí tưởng người đi. Có thiên đàng nào đẹp bằng quê hương. Tâm trạng ray rứt nhớ nhung của Lưu Nguyễn là nỗi niềm tâm sự chung của Tản Đà, tâm sự qua những tư duy ẩn mật, sâu sắc trong mỗi người lưu vong, mơ ước ngày trở lại quê nhà thực sự an bình trong ý nghĩa chân thành thường trực:

Lá đào rơi rắc lối Thiên Thai
Suối tiễn, oanh đưa những ngậm ngùi
Nửa năm tiên cảnh
Một bước trần ai
Ước cũ duyên thừa có thế thôi
Đá mòn, rêu nhạt
Nước chảy hoa trôi
Cái hạc bay lên vút tận trời
Trời đất từ nay xa cách mãi
Cửa đóng
Đầu non
Đường lối cũ
Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi
(Tống Biệt)

Tản Đà mang nỗi sầu đi tiếu ngạo khắp cùng đất nước và ngạo nghễ trong cái thú vui bất tận thơ rượu của ông, tính tình khẳng khái ngay thật, đả phá mọi thành kiến hẹp hòi phe phái trong sinh hoạt giao mùa của trào lưu văn học mới - cũ. Ông cố gắng sống thoải mái cho chính sở thích tự nguyện của ông nên nẩy sinh nhiều giai thoại về Tản Đà cũng khá lý thú như thi sĩ Bùi Giáng:

Trời sinh ra bác Tản Đà
Quê hương thời có, cửa nhà thời không
Nửa đời nam, bắc, tây, đông
Bạn bè sum họp, vợ chồng biệt ly
Túi thơ đeo khắp ba kỳ
Lạ chi rừng biển, thiếu gì gió trăng...

Có lẽ Tản Đà là nhà văn nhà thơ đầu tiên có sáng kiến vắt óc để mưu cầu phương kế sinh nhai, cho một mình ông thôi đã vất vả lắm, huống hồ phải kiếm gạo nuôi vợ con lại càng vất vả trăm chiều.

...Cuộc trần thế kiếm ăn chẳng dễ
Rẻ rúng thay là nghệ làm văn!
...Văn chương hạ giới rẻ như bèo
Kiếm được đồng lãi thực rất khó

...Ra văn mà chẳng ra tiền
Cái nghiệp văn chương nghĩ thật phiền
Văn ế bao giờ cho bán hết
Phen này có nhẽ gánh lên tiên!

Hơn năm mươi năm sau văn chương chữ nghĩa ở đất khách còn não nề thê thảm hơn. Lớp đàn em "nặng nợ tơ tằm, cái nghiệp văn chương nó đuổi đeo", ở hải ngoại "vắt óc moi tim" cho ra những giòng văn, những vần thơ, nhưng hàng sách càng ngày càng ế ẩm và đang trên đà báo động lâm nguy. Chỉ còn lác đác ở thế hệ gọi là "nghiệp dĩ" liên hệ đến những yêu thích thơ văn tiền chiến và hậu chiến miền Nam từ trong nước, là họa may còn nhắc nhở đến những tên tuổi Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Tản Đà, Phan Khôi, Tự Lực Văn Đoàn với Nhất Linh, Thạch Lam... và thỉnh thoảng những Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Hàn Mặc Tử, Quách Tấn... như một vọng âm hiếm hoi trong đời sống chạy đuổi theo bánh xe quay của guồng máy thực dụng. Cái tâm sự đau buồn của Tản Đà khi ông đã chọn gởi gấm vào lối ngõ Đường Thi như những lời than thở cuối cùng:

Hạc vàng ai cỡi đi đâu
Mà nay Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ! Hạc vàng đi mất từ xưa
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay
Hán Dương sông tạnh cây bày
Bãi xa Anh Vũ xanh đầy cỏ non
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?
(Hoàng Hạc Lâu - Thôi Hộ - Tản Đà dịch)

Không những riêng Tản Đà mà cả chúng ta cũng đang mang tâm sự não nề buồn thảm không kém như ông ngày xưa. Có lẽ Tản Đà chỉ bước đến cửa Khổng - Lão, mà chưa bước vào Thiền Môn để quán triệt cái đạo lý vi diệu Sắc Sắc Không Không. Tản Đà sẽ thanh thản biết chừng nào, khi đến rong chơi cõi trần gian và khi cuộc vui đã mãn, thanh thản ra đi như một đám mây trắng bay qua giữa bầu trời Như Huyễn. Tản Đà tên thật Nguyễn Khắc Hiếu, sinh năm Mậu Tí 1888 tại làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây. Quê hương ông là dải bình nguyên sông Đà, chạy dài tới chân núi Tản Viên, nên ông lấy tên núi Tản ghép với sông Đà làm bút hiệu. Phụ thân Tản Đà là Nguyễn Danh Kế, đỗ cử nhân, làm quan lên tới chức án sát. Mẫu thân ông, Lưu Thị Hiền (có sách ghi là Khiêm), cũng là người có học, có tài ứng đối, làm thơ. Xuất thân con nhà cử nghiệp, Tản Đà sau khi học vỡ lòng chữ Nho ở Nam Định, sống và học với người anh cả là Nguyễn Tái Tích. Ông anh lúc ấy đã đậu phó bảng, làm đốc học ở Sơn Tây, Vĩnh Yên rồi đổi ra Hà Nội. Riêng phần

Tản Đà học hành lận đận, chỉ đỗ kỳ hạch ấm sinh dành cho con quan. ông trượt luôn hai khóa Kỷ Dậu (1909) và Nhâm Tí (1912) chán nản bỏ luôn khóa Ất Mão, chuyển sang học chữ quốc ngữ và bắt đầu viết Giấc Mộng Con. Năm 1913 Tản Đà được Trịnh Xuân Nham, giáo thụ trường Hậu Bổ đề bạt cho Nguyễn Văn Vĩnh, ông có các bài tiểu luận đăng khá đều trên Đông Dương Tạp Chí và bắt đầu được chú ý. Từ cuối năm 1925, ông ra An Nam Tạp Chí. Tờ báo đóng cửa ba lần, tục bản hai lần, tới 1933 mới đóng cửa luôn. Trong khoảng thời gian An Nam Tạp Chí đình bản, thi sĩ Tản Đà vào Sài Gòn viết cho Đông Pháp Thời Báo của Diệp Văn Kỳ (1927) nhưng nửa chừng bỏ trở ra Bắt tục bản An Nam Tạp Chí (1927). Từ cuối năm 1932, ông đóng cửa vĩnh viễn tờ An Nam Tạp Chí (Nguyễn Văn Vĩnh cũng ra tờ An Nam Tạp Chí khác trong cùng năm này). Vốn đã sống trong cảnh túng thiếu, Tản Đà càng lúc càng quẫn bách hơn. Có lúc ông về Bạch Mai (gần Hà Nội) mở lớp dạy chữ Nho. Có lúc ông quay về Hà Đông, đăng quảng cáo trên vài tờ báo: "Nhận làm thuê các thứ văn vui, buồn, thường dùng trong xã hội - Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu". Có lúc ông phải mở cả phòng đoán số Hà Lạc để kiếm sống (1938). Tản Đà mất vì bệnh gan, ngày 17.6.1939 tại nhà riêng, số 71 ngã tư Sở, Hà Nội, để lại vợ và tám con. Di thể tiên sinh được an táng tại nghĩa trang Quảng Thiện, Hà Nội.

http://chimviet.free.fr/tacpham1/thanhlng/thll054a.htm

Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu (1888-1939) ___ (trích Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến) Nguyễn Tấn Long - Nguyễn Hữu Trọng

Tản Đà là biệt hiệu (tên ghép của núi Tản và sông Đà), tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, sinh năm 1888 lại làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây (Bắc phần). Thân phụ là cụ Nguyễn danh Kế, thân mẫu là ả đào hát hay, thơ giỏi, thường gọi Phủ Ba.

Tản Đà là con dòng thứ. Ông có hai người anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn tài Tích và Nguyễn Cổn; ngoài ra, còn người anh cùng mẹ là Nguyễn Mạn.

Thuở nhỏ ông theo học Hán văn, sau nhờ người anh cả là Phó bảng Nguyễn tài Tích làm đốc học, hết lòng chỉ dẫn nên ông nổi tiếng văn hay chữ tốt. Ngay lúc còn học ở trường Quy thức ông nổi danh với bài Âu Á nhị châu hiện thế, được các báo Trung hoa ở Hương cảng đăng trong mục xã thuyết.

Năm 1909, ông bị hỏng ở khoa thi Hương (Kỷ dậu).

Năm 1912, ông yêu cô gái bán sách họ Đỗ ở phố Hàng Bồ. Tản Đà chiều theo ý muốn của nàng đã phải dùng bằng Ấm sinh để thi Hậu bổ, nhưng bị rớt vấn đáp. Mùa thu năm ấy, ông thi Hương lại hỏng luôn. Mối tình vì đó tan vỡ ; nàng đi lấy chồng; Tản đà đành ôm mối tình tuyệt vọng từ đây.

Sau khi ông anh cả Nguyễn tài Tích mất, Tản Đà ra làm báo. Vừa viết cho Đông dương tạp chí của ông Nguyễn văn Vĩnh (1913), vừa viết cho Nam phong thì bị ông Phạm Quỳnh vì muốn tranh thời danh mà thẳng tay mạt sát quyển Giấc mộng con nên không hợp tác được. Ra làm chủ bút tạp chí Hữu thanh (1921); nhưng vốn là nhà thơ, không quen nghề làm báo nên không bao lâu Hữu thanh đình bản. Ông lập Tản Đà thư cục, rồi cho ra An nam tạp chí (1926); nhưng cũng đình bản. Tản Đà vào Gia định (Nam phần) ở tại Xóm Gà viết cho báo Thần chung và Đông Pháp thời báo của ông Diệp văn Kỳ. Nhưng rồi ông lại ra Bắc tái bản An nam tạp chí. Tờ báo này lại chết làm tan vỡ cái mộng "bồi lại bức dư đồ" của Tản Đà. Ông đành quay về dịch thơ Đường cho báo Ngày nay, chú thích truyện Kiều, dịch Liêu trai chí dị cho nhà xuất bản Tân Dân.

Tác phẩm của ông suốt 25 năm trong nghề văn, nghề báo gồm có:

Tiểu thuyết :Thề non nước, Trần ai tri kỷ ( truyện ngắn, 1932 ), Giấc mộng lớn, Giấc mộng con I (1916), Giấc mộng con II (1932).

Luận thuyết : Tản Đà tùng văn (bản chính, bản phụ), Tản Đà văn tập (hai quyển gồm những bài viết ở Đông phương tạp chí in thành sách 1932), Tản Đà xuân sắc (1934), Khối tình (1918).

Giáo khoa : Lên sáu, Lên tám, Đài gương truyện, Quốc sử huấn mông, Đàn bà Tàu (trích dịch liệt nữ truyện).

Dịch thuật : Đại học, Đường thi, Liêu trai chí dị (40 truyện).

Tuồng chèo : Tây Thi, Tỳ Bà hành, Lưu Nguyễn nhập Thiên thai.

Đến năm 1939, Tản Đà qua đời tại số 71 Ngã tư Sở, ngày 20 tháng 4 năm Kỷ mão Âm lịch, nhằm ngày 7 tháng 5 năm 1939 tại Hà Nội.

* Đem đặt Tản Đà lên hàng đầu chiếc chiếu thi đàn Việt nam ở giai đoạn tiền chiến mở màn cho kỷ nguyên thi ca mới, có lẽ các bạn sẽ gợn lên một thoáng ngạc nhiên; nhưng rồi sự cảm xúc ấy sẽ lắng dịu ngay khi chúng ta hiểu rằng Tản Đà là một hồn thơ cũ đã sớm cảm thông hồn thơ mới của lớp người trẻ; thi nhân đã đóng vai trò của nhịp cầu nối liền hai thế hệ tân và cựu.

Sau khi thực dân chiếm xong giải đất này, đặt ngay guồng máy cai trị, nhốt chặt muôn triệu linh hồn Việt nam, tuy chậm tiến trước sức mạnh vũ bão của cơ giới văn minh, nhưng vẫn là những tâm hồn khao khát cái cao rộng của trời xanh. Tản-Đà tuy không phải là chiến sĩ tích cực giải phá lao lung, nhưng cũng phát lộ được ý chí "bồi lại bức dư đồ", giãi tỏ niềm ưu ái đối với quốc gia, dân tộc.

Tiếp đấy là một cuộc tấn công mới của thực dân trên địa hạt văn hóa; họ đem cái học thuật Tây phương gieo rắc sự hiểu biết cần thiết của một trách vụ phục dịch để củng cố thế đứng vững chắc trên thực dân địa; tuy nhiên nó cũng có khả năng tiêu hủy căn bản văn hóa cổ truyền của một dân tộc nhỏ bé. Đó là hồi chuông gióng lên báo hiệu sự bắt đầu suy tàn của nền học cũ. Hồn thể của Tản Đà đã hấp thụ thâm đậm nền Nho học Đông phương, những mong đem sự hiểu biết của mình để thi thố với đời. Nào ngờ, ngọn gió văn minh Tây phương thổi đùa cái căn bản tri thức của Tản Đà tan như khói tỏa, cho nên Tản Đà đã buồn đau khi phải chứng kiến sự thoái vị của nền cựu học.

Như để cứu vãng một thân bị lỡ làng, Tản Đà đã không bắt chước các cụ thời xưa thường hay rút về an hưởng cảnh nhàn khi chán ngán một thực tế đắng cay, hoặc lấy tay bưng bít việc đời mặc kệ sự giả dối, lật lọng, phản trắc cứ tiếp diễn; Tản Đà khác hơn, đã thả hồn mình trong "giấc mộng con", "giấc mộng lớn", làm một cuộc viễn du vòng quanh thế giới như cố tìm hiểu tận cội rễ cái mới mẻ của nền tân học. Sau đấy, ta thấy Tản Đà như làm cuộc cách mạng trong tâm hồn, tư tưởng liền biến đổi, thu được khoảng cách trước bước tiến của lớp trẻ; tiếng lòng của thi nhân được diễn đạt thành tiếng tơ réo rắt giữa cái tân kỳ của lớp người mới mà ta không cảm mấy bị lỗi nhịp hoặc sượng sùng; vì lúc bấy giờ Tản Đà đã trang bị cho mình những gì cần thiết trong cuộc hòa nhạc. Cũng có cái lãng mạn của J. Leiba hay Hồ Dzếnh sau khi "bị tiếng sét ái tình" của người con gái họ Đỗ; cũng có cái mộng mơ hư thực của Lưu trọng Lư, Thế Lữ; cũng có nỗi niềm tha thiết với quê hương trong mấy vần thơ của Thâm Tâm, Trần huyền Trân; lại có cái say sưa của Vũ hoàng Chương; Tản Đà còn vượt bực hơn thi nhân trẻ ở cái ngông. Một cái ngông mà Trời còn chạy mặt; nó đã trở thành một bản án của vị trích tiên Tản Đà còn ghi rành rành trong quyển sổ Thiên tào:

Bẩm quả có tên "Nguyễn khắc Hiếu"

Đày xuống hạ giới về tội ngông.

(Bầu Trời)

Bây giờ ta thử lượt qua khái quát những dòng tư tưởng của Tản Đà.

Trước nhất, hãy nói đến khuynh hướng lãng mạn. Sau khi bị tan vỡ mộng tình cùng nàng Đỗ thị, Tản Đà đã dành cho tình yêu chiếm một chỗ quan trọng trong thi ca. Từ thuở ban sơ khi tim mình bắt đầu rung động, thi nhân tự hỏi:

Quái lạ vì sao cứ nhớ nhau ?

Nhớ nhau đăng đẳng suốt đêm thâu.

Bốn phương mây nước người đôi ngả,

Hai gánh tương tư một gánh sầu.

Nhịp lòng dậy lên niềm thổn thức khi thẫn thờ cô độc đứng dưới ánh trăng suông, thảng thốt thi nhân kêu lên như than thở:

Mình ơi có nhớ ta chăng?

Nhớ mình đứng tựa ánh trăng ta sầu.

Nhớ thì vẫn nhớ đấy, nhưng từ lúc chàng trượt kỳ thi Hậu bổ, rồi lại thi Hương lần nhì hỏng nốt, con chim hồng của thi nhân vội tung cánh tuyệt mù, để lại một tâm hồn sầu tủi lỡ dở bước đường mây, tan rã giấc mộng tình. Ta hãy nghe thi nhân kêu đau trong những vần thơ nhẹ nhàng, gợi cảm:

Duyên hồ thắm bổng dưng phai lạt,

Mối tơ vương đứt nát tan tành,

Tấm riêng, riêng những thẹn mình,

Giữa đường buôn đứt gánh tình như không !

*

Ái ân thôi có ngần này,

Thề nguyền non nước đợi ngày tái sinh ...

Thực tế quá đắng cay, chua chát! Thi nhân xoay đường tình vào cõi mộng. Một "giấc mộng con" cũng đã làm thỏa mãn yêu đương còn hơn mười năm nuôi dưỡng ái tình cùng người đẹp. Tản Đà đã đem thực tế và cõi mộng ra so sánh:

Nhớ mộng

Giấc mộng mười năm đã tỉnh rồi,
Tỉnh rồi lại muốn mộng mà chơi.
Nghĩ đời lắm nỗi không bằng mộng,
Tiếc mộng bao nhiêu lại ngán đời.
Những lúc canh gà ba cốc rượu,
Vài khi cánh điệp bốn phương trời.
Tìm đâu cho thấy người trong mộng,
Mộng cũ mê đường biết hỏi ai?
(Giấc mộng con)

Thất bại đường tình ở hiện thực, thi nhan xây giấc mộng tình cùng người con gái ở tận trời Tây, nàng Chu Kiều-Oanh, phải chăng là hình ảnh nàng Đỗ thị? Ở Giấc mộng con, chúng ta còn thấy bóng dáng người con gái mến yêu; đến bài Tống biệt, tình ái của thi nhân lờ mờ trong sương phủ. Hãy đọc:

Tống biệt

Lá đào rơi rắc lối Thiên thai,
Suối tiễn oanh đưa những ngậm ngùi,
Nửa năm tiên cảnh,
Một bước trần ai.
Ước cũ duyên thừa, có thế thôi!
Đá mòn, rêu nhạt,
Nước chảy, huê trôi,
Cái hạc bay lên vút tận trời!
Trời đất từ nay xa cách mãi.
Cửa động,
Đầu non,
Đường lối cũ,
Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi.

*

Bàn đến tinh thần ái quốc, chúng ta thấy bộc lộ sự bất mãn (1) ngay từ khi Tản Đà va chạm phải cái thối nát của đám quan lại ở chốn trường thi; chỉ vì tin ở tài bộ có thừa mà không chịu uốn mình theo khuôn phép nên bị đánh hỏng. Đã đau lòng trước cảnh nước nhà gặp bước suy vong lụn bại trong vòng kiềm tỏa, cương thường đạo nghĩa nghìn xưa đảo lộn, lại thêm bọn sâu dân mọt nước tiếp tay với thực dân đục khoét mảnh giang san ra tơi tả, đau thương, thi nhân đã bày tỏ ý gì trong bài:

Vịnh bức dư đồ rách
Nọ bức dư đồ thử đứng coi,
Sông sông núi núi khéo bia cười,
Biết bao lúc mới công vờn vẽ,
Sao đến bây giờ rách tả tơi?
Ấy trước ông cha mua để lại,
Mà sau con cháu lấy làm chơi!
Thôi thôi có trách chi đàn trẻ,
Thôi để rồi ta sẽ liệu bồi!

Tình yêu nước của Tản Đà nhẹ nhàng, loáng thoáng. Sau khi người anh cả chết, ông nhất quyết ra làm báo vì nghĩ rằng đấy là phương tiện để ông dùng ngòi bút khí giới muôn đời của kẻ sĩ đóng góp với non sông. Tản Đà đã lập chí như thế nào? Ta hãy nghe:

Phận nam nhi tang bồng là chí,
Chữ trượng phu ý khí nhường ai.
Non sông thề với hai vai,
Quyết đem bút sắt mà mài lòng son.

Giá lúc bấy giờ lòng ông đen tối, ham chạy theo bả lợi danh, chỉ cần đồng ý với thực dân Vayrac, ra làm quan thì thoát ngay cảnh nghèo dễ như bỡn. Nhưng không, lòng ông đã nặng thề cùng non nước:

Thề non nước

Nước non nặng một lời thề,
Nước đi đi mãi không về cùng non.
Nhớ lời "nguyện nước thề non",
Nước đi chưa lại non còn đứng không.
Non cao những ngóng cùng trông,
Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày.
Xương mai một nắm hao gầy,
Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương.
Trời Tây ngã bóng tà dương,
Càng phơi vẻ ngọc, nét vàng phôi pha.
Non cao tuổi vẫn chưa già,
Non thời nhớ nước, nước mà quên non.
Dù cho sông cạn đá mòn,
Còn non, còn nước, hãy còn thề xưa.
Non xanh đã biết hay chưa?
Nước đi ra bể lại mưa về nguồn.
Nước non hội ngộ còn luôn,
Bảo cho non chớ có buồn làm chi.
Nước kia dù hãy còn đi,
Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui.
Nghìn năm giao ước kết đôi,
Non non, nước nước không nguôi lời thề.

*

Say và ngông của Tản Đà phải đi đôi. Nó là trạng thái tất nhiên của một tâm hồn kết tụ bởi buồn, chán và bực tức. Buồn cho ái tình dở lỡ, bẽ bàng; chán cho tình đời đen bạc, thêm nghĩ mình sinh bất phùng thời, mang một kiếp tài hoa mà chẳng có đất thi thố để cho phường vô tài thiếu đức múa rối trên tấn kịch xã hội. Tản Đà mới mượn câu thơ chung rượu khỏa lấp sầu tư để quên sự đời, quên cái thân hình phù du của con người. Tản Đà vẫn viết "say sưa là hư đời", nhưng trong cái đau nhừ của thể xác thi nhân đã tìm được đôi khắc sung sướng ở tâm hồn. Nhiệt độ của men rượu quả có năng hiệu đốt cháy mọi phiền não của tâm cơ, nâng đẩy hình hài thoát khỏi thực tại chua chát, hồn phách bỗng trở nhẹ lâng lâng. Ta hãy đọc những vần dưới đây để biết tại sao Tản Đà cần phải say:

Lại say

Say sưa nghĩ cũng hư đời,
Hư thì hư vậy, say thì cứ say.
Đất say đất cũng lăn quay,
Trời say mặt cũng đỏ gay, ai cười?
Say chẳng biết phen này là mấy,
Nhìn non xanh chẳng thấy lại là say
Quái! Say sao? Say mãi thế nầy?
Say suốt cả đêm ngày như bất tỉnh,
Thê ngôn túy tửu chân vô ích.
Ngã dục tiêu sầu thả tự do.
Việc trần ai, ai tỉnh, ai lo,
Say lúy túy nhỏ to đều bất kể.
Trời đấy nhỉ! Cái say là sướng thế!
Vợ khuyên chồng, ai dễ đã chừa ngay,
Muốn say lại cứ mà say.

Từ say đến ngông chỉ là một bước lân cận. Nếu tình yêu đã choán nhiều chỗ trong tác phẩm của ông, thì tánh ngông cũng không chịu kém. Có người viết về cái ngông của Tản Đà như sau:

"Nếu đọc thơ Tản Đà trên mọi khía cạnh mà không đọc những bài thơ cũng như những đoạn văn về ngông của ông thì thật là một lỗi lầm rất lớn và có thể cho rằng như vậy chính là chưa đọc hết thơ của Tản Đà!"

Nếu ở mười tám năm trước đây, một Trần tế Xương suốt đời phải lận đận lao đao vì khoa cử công danh mà nảy ra tư tưởng chán đời đến độ bất cần sự đời, đâm ra lêu lỏng ăn chơi, nổi tiếng là:

"Vị xuyên có bác Tú Xương,
Quanh năm ăn quỵt, chơi lường mà thôi."
hay:
"Một ngọn đèn xanh, một quyển vàng,
Bốn con làm lính, bố làm quan.
Quạt nước chưa xong con nhảy ngược;
Trống chầu chưa dứt, bố leo thang."
Thật ra ngông không ai hơn.

Thế rồi không bao lâu, nhà thơ Tản Đà lại tiếp tục sự nghiệp ngông ấy. Cái ngông trong thơ Tản Đà gần như là một vấn đề phải có đối với ông, vì nó đã phản ảnh được cá tính cũng như cuộc sống lúc bấy giờ của tác giả.

Như mọi người đều biết, Tản Đà làm văn nghệ nhưng suốt đời vẫn sống trong cảnh túng thiếu, nghèo nàn không thua gì ông tú làng Vị xuyên, nghèo đến nước:

"Ôi trời! ôi đất! ôi là tết!
Tháng cận năm cùng, gạo cũng hết."
(Than tết)

hay:

"Tết đến năm nay nghĩ cũng buồn,
Tiền thì không có, nợ đòi luôn."
(Tết than việc nhà)

Với cảnh nghèo cùng quẫn, tiền bạc không có, vay trước trả sau, Tản Đà quá chán chường cuộc sống, nảy sinh tư tưởng bất cần đời, vì ông tin rằng "bôn ba chẳng qua thời vận" rồi ông đâm ra liều lĩnh, ăn chơi cho thỏa thích, mặc đến đâu thì đến. Làn văn chương chẳng cần mực thước, vui thì làm, buồn thì nghỉ. Những điều vừa nói, ta thấy tâm trạng của thi nhân qua bài Còn chơi, tiêu biểu khuynh hướng ngông của tác giả:

Còn chơi

Ai đã hay đâu tớ chán đời,
Đời chưa chán tớ, tớ còn chơi.
Chơi cho thật chán, cho đời chán,
Đời chán nhau rồi, tớ sẽ thôi.
Nói thế, can gì tớ đã thôi,
Đời đương có tớ, tớ còn chơi.
Người ta chơi đã già đời cả,
Như tớ năm nay mới nửa đời.
Nửa đời chính độ tớ đương chơi,
Chơi muốn như sao thật sướng đời.
Người đời ai có chơi như tớ,
Chơi cứ bằng văn mãi chửa thôi.
Chơi văn sướng đến thế thì thôi,
Một mảnh trăng non chiếu cõi đời.
Văn vận nước nhà đương buổi mới,
Như trăng mới mọc, tớ còn chơi.
Làng văn chỉ thiếu khách đua chơi,
Dan díu, ai như tớ với đời.
Tớ đã với đời dan díu mãi,
Muốn thôi, đời cũng chửa cho thôi.
Đời đương dang díu, chửa cho thôi,
Tớ dám xa xôi để phụ đời.
Vắng tớ bấy lâu, đời nhớ tớ,
Nhớ đời, nên tớ vội ra chơi.
Tớ hãy chơi cho qúa nửa đời,
Đời chưa quá nửa, tớ chưa thôi.
Tớ thôi, tớ nghĩ buồn cho tớ,
Buồn cả cho đời vắng bạn chơi.
Nào những ai đâu, bạn của đời?
Sao mà bỏ vắng, ít ra chơi?
Chớ ai chờ mãi, ai đâu tá?
Hay ngán cho đời chẳng muốn chơi?
Nếu tớ như ai: cũng ngán đời,
Đời thêm vắng bạn, lấy ai chơi?
Cuộc đời tớ nghĩ chưa nên ngán,
Nếu ngán thời xưa tớ đã thôi.
Tớ nhớ năm xưa nửa ngán đời,
Nghĩ đi, nghĩ lại, lại ra chơi.
Mê chơi cho tới thành dan díu,
Đời dẫu cho thôi, tớ chẳng thôi.
Nghĩ tớ bao nhiêu, lại nghĩ đời,
Nghĩ đời như thế, dám nào thôi.
Còn đời, còn tớ, còn chơi mãi,
Chơi mãi cho đời có bạc chơi.
Tớ muốn chơi cho thật mãn đời,
Đời chưa thật mãn; tớ chưa thôi.
Chẳng hay đời tớ lâu hay chóng!
Dù chóng hay lâu, tớ hãy chơi.
Trăm năm, tớ độ thế mà thôi,
Ức, triệu, nghìn năm chửa hết đời.
Chắc có một phen đời khóc tớ.
Đời chưa khóc tớ, tớ còn chơi.
Trăm năm còn độ bấy nhiêu thôi,
Ngoài cuộc trăm năm, tớ dặn đời.
Ức, triệu, nghìn năm đời nhớ tớ.
Tớ thôi, tớ cũng hãy cùng chơi.
Bút đã thôi rồi, lại chửa thôi,
Viết thêm câu nữa, hỏi đời chơi:
"Lộng hoàn"này điệu từ đâu tới?
Họa được hay không? Tớ đố đời.

Bất mãn với thời thế, Tản Đà cũng như bao nhiêu người khác, những lúc quá ê chề chán nản cho cuộc sống hẩm hiu, người ta thường sống trong cõi mộng, nuôi một hy vọng ở tương lai sẽ sáng sủa, thắm tươi hơn, vì tin rằng "hết cơn bỉ cực đến hồi thái lai" nên thi nhân tự hỏi: "có lẽ ta đâu mãi thế này", bởi thế cho nên Tản Đà mơ mộng thật nhiều, mơ mộng cuộc sống sẽ huy hoàng, tên tuổi sẽ sáng chói, những tác phẩm sẽ bán thật nhiều để điểm tô cho cuộc đời thêm khởi sắc, đây ta hãy nghe thi nhân kể lại giấc mơ đó trong bài:

Hầu Trời

Đêm qua chẳng biết có hay không,
Chẳng phải hoảng hốt, không mơ mòng.
Thật hồn, thật phách, thật thân thể,
Thật được lên tiên sướng lạ lùng!
Nguyên lúc canh ba nằm một mình,
Vắt chân dưới bóng ngọn đèn xanh.
Nằm buồn ngồi dậy đun nước uống,
Uống xong ấm nước nằm ngâm văn.
Chơi văn ngâm chán, lại chơi trăng,
Ra sân cùng bóng đi tung tăng.
Trên trời bỗng thấy hai cô xuống,
Miệng cười mủm mỉm cùng nói rằng:
"Trời nghe hạ giới ai ngâm nga,
"Tiếng ngâm vang cả sông Ngân hà.
"Làm Trời mất ngủ, Trời đương mắng
"Có hay lên đọc, Trời nghe qua."
Ước mãi bây giờ mới gặp Tiên!
Ngườ Tiên nghe tiếng lại như quen
Văn chương nào có hay cho lắm,
Trời đã sai gọi thời phải lên.
Theo hai cô Tiên lên đường mây,
Vù vù không cánh mà như bay.
Cửa son đỏ chói oai rực rở!
Thiên môn Đế khuyết như là đây?
Vào trông thấy Trời, sụp muốn lạy,
Trời sai Tiên nữ dắt lôi dậy,
Ghế bành như tuyết, vân như mây,
Truyền cho văn sĩ ngồi chơi đây.
Tiên đồng pha nước, uống vừa xong,
Bỗng thấy chư Tiên đến thật đông,
Chung quanh bày ghế ngồi la liệt,
Tiên bà, Tiên cô, cùng Tiên ông.
Chư Tiên ngồi quanh đã tỉnh túc,
Trời sai pha nước để nhắp giọng.
Truyền cho văn sĩ đọc văn nghe,
"Dạ, bẩm lạy Trời, con xin đọc."
Đọc hết văn vần, sang văn xuôi,
Hết văn thuyết-lý, lại văn chơi.
Đương cơn đắc ý đọc đã thích,
Chè trời nhắp giọng càng tốt hơi!
Văn dài, hơi tốt ran cung mây,
Trời nghe trời cũng lấy làm hay.
Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi.
Hằng Nga, Chức nữ chau đôi mày.
Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứng
Đọc xong mỗi bài, cùng vỗ tay.
"Bẩm con không dám man cửa Trời,
"Những các văn, con in cả rồi:
"Hai quyển "Khối tình" văn thuyết lý:
"Hai "Khối tình con" là văn chơi:
"Thần tiên", "Giấc mộng" văn tiểu thuyết:
"Đài gương", "Lên Sáu" văn vị đời;
"Quyển "Đàn bà Tàu" lối văn dịch;
"Đến quyển "Lên Tám" nay là mười,
"Nhờ Trời văn con mà bán được,
"Chửa biết con in ra mấy mươi!"
Văn đã giàu thay, lại lắm lối,
Trời nghe Trời cũng bật buồn cười.
Chư tiên ao ước, tranh nhau dặn:
"Anh gánh lên đây bán chợ trời."
Trời lại phê cho: "Văn thật tuyệt!
"Văn trần được thế chắc có ít?
"Lời văn chuốt đẹp như sao băng!
"Khi văn hùng mạnh như mây chuyển!
"Êm như gió thoảng, tinh như sương!
"Đầm như mưa sa, lạnh như tuyết!
"Chẳng hay văn sĩ tên họ gì?
"Người ở phương nao? Ta chửa biết!"
- "Dạ, bẩm lạy Trời, con xin thưa:
"Con tên "Khăc Hiếu" họ là "Nguyễn"
"Quê ở Á-châu về Điạ-cầu.
"Sông Đà, núi Tản, nước Nam Việt."
Nghe xong, Trời ngợ một lúc lâu,
Sai bảo Thiên-Tào lấy sổ xét.
Thiên Tào tra sổ xét vừa xong,
Đệ sổ lên trình Thượng đế trông:
"Bẩm quả có tên "Nguyễn khắc Hiếu"
"Đày xuống hạ giới về tội ngông"
Trời rằng: "Không phải là trời đày,
"Trời định sai con một việc này:
"Là việc "thiên lương của nhân loại"
"Cho con xuống thuật cùng đời hay."
- "Bẩm trời, cảnh con thật nghèo khó,
"Trần gian thước đất cũng không có.
"Nhờ trời năm xưa học ít nhiều,
"Vốn liếng còn một bụng văn đó.
"Giấy người, mực người, thuê người in,
"Mướn cửa hàng người bán phường phố.
"Văn chương hạ giới rẻ như bèo!
"Kiếm được đồng lãi thật rất khó!.
"Kiếm được có ít, tiêu phải nhiều,
"Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu.
"Lo ăn, lo mặc suốt ngày tháng,
"Học ngày một kém, tuổi càng cao!
"Sức trong non yếu, ngoài chen rấp,
"Một cây che chống bốn năm chiều.
"Trời lại sai con việc nặng quá,
"Biết làm có nổi, mà dám theo?"
- Rằng: "Con không nói, Trời đã biết,
"Trời dẫu ngồi cao, Trời thấu hết.
"Cho con cứ về mà làm ăn,
"Lòng thông chớ ngại chi sương tuyết.
"Cố xong công việc của Trời sai,
"Trời sẽ cho con về Đế khuyết"
Vâng lời Trời dạy, lại xin ra,
Trời sai Khiên Ngưu đóng xe tiễn.
Xe trời đã chực ngoài Thiên môn,
Chư tiên theo ra cùng tiễn biệt.
Hai hàng lụy biệt giọt sương rơi,
Trông xuống trần gian vạn dặm khơi.
Thiên tiên ở lại, Trích tiên xuống,
Theo đường không khí về trần ai.
Đêm khuya khí thanh, sao thưa vắng,
Trăng tà đưa lối về non Đoài.
Non Đoài đã tới quê trần giới,
Trông lên chư tiên không còn ai!
Tiếng gà xao xác, tiếng người dậy,
Giữa sân còn đứng riêng ngậm ngùi.
Một năm ba trăm sáu mười đêm,
Sao được đêm đêm lên hầu Trời.

Đọc qua ta thấy cái ngông của Tạn Đà nhẹ nhàng, ý nhị, không quá trắng trợn như cái ngông của ông Tú Vị xuyên Trần tế Xương:

Vị xuyên có bác Tú Xương,
Quanh năm ăn quỵt chơi lường mà thôi.
hay là:
Ông trông lên bảng thấy tên ông,
Ông tớp rượu vào, ông nói ngông,
Cụ Sứ có cô con gái đẹp,
Lăm le xui bố cưới làm chồng.

Trình bày cái ngông của mình, trước mặt Trời thi nhân kể lể tâm sự của một khách văn chương như ông, văn rất hay nhưng khổ nỗi "văn chương hạ giới rẻ như bèo", bởi thế cho nên:

Kiếm được đồng lãi thật rất khó!
nhưng:
Kiếm được có ít, tiêu phải nhiều.
Chính vì thế mà:
Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu.
Lo ăn, lo mặc, suốt ngày tháng.
Trong khi đó thì:
Sức trong non yếu, ngoài chen rấp,
Một cây che chống bốn năm chiều.

Chính vì những ý nghĩ đó mà Tản Đà ngông và muốn:

" Tớ muốn chơi cho thật mãn đời,
Đời chưa thật mãn, tớ chưa thôi.
Chẳng hay đời tớ lâu hay chóng?
Dù chóng hay lâu tớ hãy chơi."

Tình và ý thơ của Tản Đà còn bàng bạc trong các tác phẩm. Một phần nhỏ mọn của quyển sách này không làm sao luận cạn. Từ cái hướng nhắm của hai tác phẩm Lên sáu và Lên tám, tác giả đã lấy sự giáo dục làm lợi khí trong việc đào tạo tinh thần đoàn kết và lòng thương nước của trẻ con; qua Đài gương truyện và Đàn bà Tàu đã nói nhiều về trách vụ người phụ nữ; đến lòng ái quốc của tiên sinh được bộc lộ rải rác trong những văn thi phẩm mà chúng tôi đã luận qua khái quát ở phần trên.

Riêng phương diện tình ái, ta thấy tình yêu của Tản Đà tuy nhẹ nhàng nhưng không kém đậm đà, tha thiết. Ngọn lửa yêu đương đã thành hình và bốc cháy trong tâm can cũng như đã trải ra trên trang thơ nét chữ là thứ tình yêu mang màu sắc của người phương Đông; mặc dù yêu nhau nặng, tình cảm đã trào dâng nhưng không dám thổ lộ quá cởi mở như người phương Tây.

Nói đến cái ngông. Từ khi Tản Đà đã lỡ bước đường mây, thua thiệt trong tình ái, lại thấy trên sân khấu đời nhởn nhơ phường bất tài bất trí, thương cho một thân chứa đựng tài hoa mà đành khoanh tay chịu cảnh nghèo, nhìn mọi diễn biến chán ghét trong vở bi hài kịch xã hội; ngần ấy bất mãn đã nung sôi lòng bực tức, ông đâm ra ngông nghênh, nói theo danh từ thời đại nó là cái bốc đồng nhất thời vậy. Ngông là cái thói khinh đời, ngạo thế. Nó là cái trạng thái khi cái tri thức bị rượt đuổi đến bước đường cùng. Bị uất ẩn mà không làm sao giải tỏa; ước định lo cho đời mà đời chẳng cho lo; những tâm hồn bị đè nén đâm ra tư tưởng cóc cần đời. Vì thế, Tản Đà quyết định: vậy thì cứ ăn chơi cho thỏa thích, chơi đến đời chán mới thôi; nhưng như vậy là đã thiên về vật chất; cái tình vị tha vị xã trườc kia nay bị co rút vào tháp ngà của cuộc sống hiện hữu được gói ghém kỹ trong một cá thể.

Nói chung, cái ngông này, Tản Đà quyết định mang đến kỳ cùng hơi thở. Nó là một hình thức chống đối thời thế đã không chìu lòng người, mà còn hất hủi xô đẩy Tản Đà trở thành một con người bất đắc chí vì chưa thỏa mãn được sứ mạng thi hành cái "thiên lương (*) " mà Trời đã giao phó.

***

(*) - Thiên lương gồm ba chất:

1) Lương tri là cái tri thức người ta vốn biết , không cần phải suy nghĩ và học tập.

2) Lương tâm là cái thiện tâm của người ta sẵn có

3) Lương năng là cái tài năng người ta không học mà có.

Thiên lương nằm trong học thuyết Vương Dương Minh.

Tản Đà chủ trương : muốn cho nước tiến bộ phải cải thiện xã hội; muốn cải thiện xã hội phải cải thiện con người; muốn cải thiện con người phải phát triển thiên lương.

Đây là một khía cạnh yêu nước của nhà thơ họ Nguyễn.

TÌNH NON NƯỚC CỦA TẢN ĐÀ

Trần Quốc Bảo

(Bài nói chuyện của nhà văn Trần Quốc Bảo, Chủ Tịch Trung Tâm Văn Bút Miền Đông Hoa Kỳ, tại Hội Cao Niên Vùng Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn, ngày 4 tháng 10 năm 2003).

Người cùng thời với Tản Đà, cũng như lớp hậu sinh, đã đề cập đến ông khá nhiều, qua những: Thi Văn Tuyển Tập, Phê Bình Văn Học, bình giảng, luận văn, cũng như trong các buổi văn đàm v.v..., những phẩm bình gạn lọc của một một nền văn học suốt chiều dài thế kỷ đã xác định giá trị tuyệt vời của thi ca Tản Đà, đứng hàng đầu, lớp các nhà thơ tiền bán thế kỷ 20 và luôn cả nhiều thập niên sau nữa.

Sách báo viết về Tản Đà, bàn đến những áng thơ xuất thần của tiên sinh, những nét đặc thù như: cái say, cái sầu, cái mộng và đặc biệt là cái ngông của tiên sinh; có học giả phân tích cặn kẻ về bút pháp trong thơ văn Tản Đà, về nghệ thuật ca trù và sự tài tình dịch thuật thơ từ Hán tự qua tiếng Việt. Lại có vị đề cập tới cái lý tưởng cao vời, suốt đời tiên sinh đeo đuổi mà cho đến ngày lìa đời vẫn chưa thực hiện được như lòng mong ước, đó là tiên sinh muốn đề xuất, quảng bá và phổ động triết thuyết Thiên Lương cho bàn dân thiên hạ, tựa như việc truyền bá tư tưởng hiền nhân quân tử và thuyết Trung Dung của đức Khổng Tử vậy.

- Vâng, đã có nhiều nhận xét đa dạng sâu sắc về Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, nhưng dường như ít ai để ý tới một điểm đặc biệt là lòng yêu quê hương, Tổ quốc của Tản Đà, đã được dàn trải thật nhiều, thật rõ ràng, nếu không nói là tràn ngập đến lộ liễu trong thơ của tiên sinh.

Bài viết này không đi vào lãnh vực luận văn hay bình thơ, mà chỉ hạn chế, trong khuôn khổ đề tài: "Minh chứng về Tình Non Nước rất sâu đậm trong thơ Tản Đà".

Tại sao không nói thẳng, nói trắng ra là lòng ái quốc, hay tình yêu Tổ quốc, Quê hương, mà lại rằng "Tình Non Nước của Tản Đà", có gì phải che dấu tránh né chăng? - Vâng, có như vậy! Xem lại tiểu sử Tản Đà, chúng ta thấy niên biểu thời ấy ở vào giai đoạn đầu lúc nước ta bị Pháp cai trị, thời điểm bây giờ mà in lên báo trương, hoặc nhỏ to xì xầm đến lòng ái quốc, đảng cách mệnh, hay phong trào khởi nghĩa v.v... là điều cấm kỵ, gông cùm tù ngục, tai họa lù lù ngay sau gáy.

Xin mở lại đôi dòng sử u buồn trăm năm trước. Nước Pháp khởi sự cuộc viễn chinh xâm lăng Việt Nam kể từ năm 1858 (Mậu Ngọ, năm Tự Đức thứ 11). Chín năm sau (1867) toàn bộ đất Nam kỳ trở thành thuộc địa của Pháp và 17 năm kế tiếp, ngày mồng 6 tháng 6 năm 1884, triều đình Huế ký Hòa Ước Giáp Thân (quen gọi là Hòa Ước Patenôtre) công nhận quyền Pháp bảo hộ trên toàn cõi Việt Nam.

Nước ta rơi vào vòng nô lệ bốn năm thì Nguyễn Khắc Hiếu ra đời, ông sinh năm Mậu Tý (1888) tại làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây, cách Hà Nội 44 cây số về hướng Tây Bắc. Quê hương ông, phong cảnh đẹp hùng vĩ, phía đông nam huyện Bất Bạt có núi Ba Vi, tức là Tản Viên cao 1280 thước, ta có câu ca dao: "Nhất cao là núi Tản Viên, thanh nhàn vô sự là tiên trên trần." (Tản Viên trông xa như hình cánh phụng, nên còn gọi là Phương Hoàng Sơn), sông Đà (còn gọi là Hắc Giang) bao bọc suốt dãy bình nguyên phía tây Bất Bạt từ bắc xuống nam làm ranh giới thiên nhiên ngăn cách với tỉnh Phú Thọ. Lòng yêu quê hương nảy sinh trong lòng Nguyễn Khắc Hiếu ngay từ khởi sự cầm bút. Ông lấy bút hiệu là Tản Đà hẳn là ý muốn gắn liền thân thế sự nghiệp vào lòng quê hương vậy.

... Văn chương thời nôm na,
Thú chơi có sơn hà.
Ba Vì ở trước mặt,
Hắc Giang bên cạnh nhà: Tản Đà.
(Tự Thuật)

... Mạch nước sông Đà tim róc rách,
Ngàn năm non Tản mắt lơ mơ.
(Ngày Xuân Rượu Với Thơ).

... Sông Đà núi Tản đúc nên ai,
Trần thế xưa nay được mấy người,
Trung hiếu vẹn tròn hai khối ngọc,
Thanh cao phô trắng một cành mai.
(Thơ Tự Vịnh).

... Vùng đất Sơn Tây nẩy một ông,
Tuổi chửa bao nhiêu văn rất hùng.
Sông Đà núi Tản ai hun đúc,
Bút Thánh câu Thần sớm vãi vung.
(Tự Trào).

Một tâm hồn nặng lòng với quê cha đất tổ, một bút thơ tài hoa như Tản Đà, mà thoạt sinh ra đã là dân mất nước, ông chào đời với tiếng khóc quê hương, nỗi niềm sầu muộn ấy đeo đẳng suốt cả cuộc đời thì việc đem tâm sự gởi vào thơ, ắt là chuyện đương nhiên. Lại nữa chúng ta biết, Tản Đà sinh nhằm buổi giao thời, cuối thế kỷ 19, qua thế kỷ 20, lúc mà ách nô lệ ngoại bang vừa chụp xuống đầu dân tộc ta, lại cũng là lúc nền phong hóa cũ của dân ta tiếp cận với nền văn minh Tây phương, chữ Quốc ngữ được dùng cấp kỳ thay thế chữ Nôm và chữ Nho:

Mười mấy năm trời ngọn bút lông,
Thảnh thơi chẳng bợn chút hơi đồng.
Bây giờ anh đổi lông ra sắt,
Cách kiếm ăn đời có nhọn không?

Sự kiện tống cự nghinh tân, thay cũ đổi mới, thuở ấy cũng tác động không ít vào nỗi sầu vọng cổ hoài hương của Tản Đà. Hơn nữa cùng trong thế hệ Tản Đà, sinh trước hoặc sau một vài thập niên, có những trang anh hùng kiệt sĩ, như Phan Bội Châu (1867), Nguyễn Thượng Hiền (1868), Phan Chu Trinh (1872), Huỳnh Thúc Kháng (1875), Nguyễn Đình Chiểu (1898), Nguyễn Thái Học, Trương Vĩnh Ký, Ngô Đình Diệm (1901), Nhất Linh Nguyễn Tường Tam (1907)... Tấm lòng yêu nước thương dân của các nhà chí sĩ đó như một chất xúc tác ngấm ngầm nhưng cực kỳ mạnh mẽ lan tràn trong tâm hồn người dân Việt vong quốc thời bấy giờ. Cao điểm của sự kiện này là vụ Nguyễn Thái Học và 12 đồng chí bị Pháp chém tại Yên Báí ngày 17 tháng 7 năm 1930 (chín năm sau, Tản Đà qua đời ngày 17 tháng 6 năm 1939 tại Hà Nội).

Thi sĩ Quách Tấn, sanh năm 1910, trẻ tuổi hơn Tản Đà một giáp, khi in tập thơ: "Một Tấm Lòng" (1939) đã được Tản Đà đề tựa, có viết một đoản văn hồi ký nói về Tản Đà, đăng trong tạp chí Tân Văn xuất bản tại Saigon năm 1971. Ông kể rằng:

"Năm 1927, Việt Nam Quốc Dân Đảng thành lập, lấy Dân tộc, Dân quyền, Dân sinh làm chủ nghĩa; lấy Độc lập, Dân chủ, Phú cường làm phương châm. Tuy còn đương trong vòng bí mật, nhưng uy danh của vị lãnh tụ, hùng tâm, hùng khí của các cấp chỉ huy, lòng nhiệt thành và đức hy sinh cao cả của đa số đồng chí, đã làm cho bọn cường quyền vừa sợ vừa kính, hàng sĩ phu yêu nước quy tâm.

Để gây ảnh hưởng sâu rộng, Đảng quyết định dùng báo chí làm cơ quan tranh đấu và tuyên truyền. Quyết định ra nhằm lúc An Nam Tạp Chí tạm đình bản vì thiếu hụt tài chánh. Ban Chấp Hành Trung Ương bèn ủy quyền cho lãnh tụ Nguyễn Thái Học đến thương lượng cùng Tản Đà tiên sinh.

Tản Đà tiên sinh là một nhà thơ yêu Tổ quốc như yêu văn chương và lập chí đem văn chương đền ơn Tổ quốc từ lúc còn trẻ:

Này vẫn bác Tản Đà ngày trước,
Thuở xuân xanh thề ước non sông.
Trải bao xuân, hạ, thu, đông,
Càng phơ tóc bạc cho lòng càng son.
(Xuân Cảm năm Ất Hợi)

Lòng tiên sinh luôn ấp ủ giấc mộng "Bồi lại bức dư đồ Việt Nam" mà "buổi trước ông cha mua để lại, ngày nay con cháu lấy làm chơi". (Vịnh Bức Dư Đồ Rách).

Cho nên khi gặp lãnh tụ Nguyễn Thái Học, tiên sinh mừng khôn xiết nỗi mừng:

Rồng Tiên cùng họ từ xưa,
Ba mươi năm mới bây giờ gặp nhau.
(Chơi Huế)

Trong các tài liệu về Tản Đà, chỉ duy có bài của Quách Tấn nhắc đến sự kiện đó, chúng ta không đánh giá sự khả tính của chuyện ấy, nhưng từ đó chúng ta mở rộng thêm nhận xét về những ẩn ý chất chứa trong thơ ái quốc của Tản Đà. Xin hãy đọc bài thơ bất hủ "Vịnh Bức Dư Đồ Rách":

Nọ bức dư đồ thử đứng coi,
Sông sông, núi núi khéo bia cười,
Biết bao lúc mới công vờn vẽ,
Sao đến bây giờ rách tả tơi?
Ấy trước ông cha mua để lại,
Mà sau con cháu lấy làm chơi!
Thôi thôi có trách chi đàn trẻ,
Thong thả rồi ta sẽ liệu bồi.

Ở vào khởi điểm của cuộc mất nước, toàn dân cúi đầu nhận chịu ách nô lệ, bài thơ trên đây của Tản Đà, nghĩa đen mộc mạc chỉ là nỗi lòng cảm động khi đứng nhìn tấm bản đồ bị rách nát, nhưng ý tại ngôn ngoại, cái tâm sự ẩn dụ trong thơ lồ lộ quá rõ rệt, từng câu, từng chữ, là tiếng thở than vong quốc thật não nùng ai oán, là lời thống thiết nhắn gọi lớp sĩ phư hãy đứng lên cứu nguy Tổ qúôc, hãy ra tay tài bồi mảnh giang sơn gấm vóc của Tổ tiên đang bị nạn ngoại xâm.

Lời kêu gọi thúc bách "Hãy mau tô bồi hàn gắn lại bức dư đồ Việt Nam rách nát tả tơi", chẳng phải chỉ gióng lên một lần rồi thôi, mà cứ mỗi khi thuận câu, hợp vần, Tản Đà lại nhắc tới, nhắc lui:

... Tri âm ai đó mau hồ giấy,
Kẻo đến dư đồ lại tả tơi!
(Lo Thời Khí).

... Biết bao ra Bắc vào Nam,
Bức dư đồ rách đã cam khó lòng!
(Xuân Tứ).

... Dư đồ còn đó chưa phai,
Còn non, còn nước, còn người nước non.
(Qua Cầu Hàm Rồng Cảm Tác).

... Đừng quên Đông Pháp người tri kỷ,
Riêng nhớ An Nam bức địa đồ.
(Gởi Tòa Soạn Đông Pháp Thời Báo).

... Bức dư đồ rách không bồi,
Báo "An Nam" nghỉ biết đời nào ra.
(Cười Bác Mai Lâm).

Có bài thơ nhắc đi nhắc lại "Bức Dư Đồ" đến hai lần:

... Khóc ai riêng cũng mừng cho,
An Nam Tạp Chí dư đồ còn đây.
... Hơn nhau một bức dư dồ,
Khí thiêng sông núi hộ phù nước non.
(An Nam Tạp Chí Ra Lần Thứ Năm).

Còn nhiều nữa, nhưng nội những câu thơ lược trích trên đây cũng đủ giải tỏ tấm lòng ái quốc nhiệt tình của nhà thơ núi Tản sông Đà, và qua đó tiên sinh đã gửi đến quốc dân một thông điệp khá rõ ràng.

Dùng biểu tượng "Bức Dư Đồ Rách" để nói về Tổ quốc suy vong, sông núi bị kẻ xâm lăng cai trị; đó là "viết" phải "lách", phải tránh né để thoát khỏi lưỡi kéo kiểm duyệt của nhà cầm quyền, nhất là để che mắt bọn mật thám Pháp và bè lũ tay sai. Cũng vậy, thay vì khơi động "Lòng Ái Quốc", Tản Đà đã viết bài thơ "Thề Non Nước":

Nước non nặng một lời thề,
Nước đi, đi mãi không về cùng non.
Nhớ lời nguyện nước thề non,
Nước đi chưa lại, non còn đứng trông.
Non cao những ngóng cùng trông,
Suối khô dòng lệ, chờ mong tháng ngày.
Xương mai một nắm hao gầy,
Tóc mây một mái đã dầy tuyết sương.
Trời tây ngã bóng tà dương,
Càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha.
Non cao tuổi vẫn chưa già,
Non thời nhớ nước, nước mà quên non.
Dù cho sông cạn đá mòn,
Còn non, còn nước hãy còn thề xưa.
Non cao đã biết hay chưa,
Nước đi ra biển, lại mưa về nguồn.
Nước non hội ngộ còn luôn,
Bảo cho non chớ có buồn làm chi.
Nước kia dù hãy còn đi,
Ngàn dâu xanh tốt, non thì cứ vui.
Nghìn năm giao ước kết đôi,
Non non, nước nước chưa nguôi lời thề.

Lời thề non nước là lời thề trước bàn thờ Tổ quốc, mà trong tình huống Tổ quốc lâm nguy thì thế hứa điều gì? Tiên sinh không nói ra, nhưng không nói mà ai cũng đều biết cả. Bút thơ Tản Đà tuyệt diệu là ở chỗ đó. Trong bài "Xuân Cảm", tiên sinh hạ bút:

Non sông thề với hai vai,
Quyết đem bút sắt mà mài lòng son.

Bút sắt mài lòng son mà viết câu thề, thì đó là "huyết thệ", thề bằng máu và tất nhiên là lời thề sắt son, trung thành nguyện đem cả hai vai gánh vác sơn hà. Nhưng tiếc rằng khi đất nước ở vào thế cùng vận bí nên cái chí cả, mộng lớn của Tản Đà đã chẳng thành tựu được. Tiên sinh xót xa thố lộ can tràng:

- Năm nay tuổi đã bốn mươi hai,
Ta nghĩ mà ta chẳng giống ai.
Khắp bốn phương trời không thước đất,
Địa cầu những muốn ghé hai vai.
- Năm nay tuổi đã bốn mươi ba,
Ta nghĩ mà ta chẳng giống ta.
Lo nước, lo nhà, lo thế giới,
Còn lo thêm nợ, nghĩ chưa ra.
(Tân Xuân - Khai bút)

Đọc những câu tâm sự trên ta thấy khác nào nỗi lòng của Đặng Dung qua bài "Thuật Hoài":

Thế sự du du nại lão hà,
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.
Thời lai đồ điếu thành công dị,
Sự khứ anh hùng ẩm hận đa.
Trí chủ hữu hoài phù địa trục,
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,
Kỷ độ long tuyền đới nguyệt ma.

Đào Hữu Dương dịch:

Tuổi già lận đận nối tình đời,
Vô tận vần xoay khoảnh đất trời.
Ti tiện gặp thời nên chẳng khá,
Anh hùng lỡ bước hận nhiều thôi.
Vác non phò chúa trên vai nặng,
Gột giáp qua mây mặt nước trôi.
Thù nước chưa xong đầu sớm bạc,
Dưới trăng mài kiếm mấy thu rồi.

Sầu vong quốc phải chăng là mối sầu vạn cổ? Tản Đà cho rằng mình sinh bất phùng thời, nỗi buồn vì thân thế quẫn bách, cô đơn cộng với niềm đau nhục của quê hương đất nước, ông bi phẩn thốt lên:

Biết bao ra Bắc vào Nam,
Bức dư đồ rách đã cam khó lòng.
Văn chương chút nghĩa đèo bòng,
Thuyền không tay lái vẫy vùng được sao!!!
(Xuân Tứ).

Cuối cùng tiên sinh cam nhận số phận hẩm hiu, đành thúc thủ trong thất bại cay đắng:

... Quản chi sông rộng doành khơi,
Buồm không thuận gió ai ơi cũng đành!
(Thư của người nhà quê).

Cả cuộc đời của Tản Đà, dù mê đắm trong văn thơ chữ nghĩa, dù say sưa túy lý càn khôn, dù ngông nghênh xem mục hạ vô nhân, coi trời bằng vung, nhưng trên hết cả, chói lọi hơn hết cả vẫn là Tình Non Nước, là tấm lòng ái quốc chân thành, trung kiên, thẳng băng mực tầu, của một sĩ phu.

Lời tâm huyết sau đây là những giọt nước mắt nhỏ xuống trang thơ, được coi như câu trối trăn tuyệt mệnh của tiên sinh:

Tấm riêng, riêng những thẹn thùng,
Giữa đường buông dứt gánh tình như không.
Gập tờ giấy niêm phong hạt lệ,
Nhờ cánh tem bay đệ cung mây.
Ái ân thôi có ngần này,
Thề nguyền non nước đợi ngày tái sinh.

oo00oo

Kính thưa quý vị, Vũ Ngọc Phan trong Nhà Văn Hiện Đại đã kết luận phê bình về Tản Đà như sau: "Thơ của ông giản dị, trong sáng, lại diễn tả tâm hồn Việt Nam đủ mọi vẻ, mọi mầu; nên thơ ông quyết nhiên sẽ là thơ bất hủ, và có lẽ trên thi đàn gần đây, ông đứng vào bậc nhất". Vũ Ngọc Phan nhận xét rất đúng nhưng dường như vẫn thiếu sót khi không đề cập đến tấm lòng yêu nước thiết tha của Tản Đà chất chứa đầy ấp trong khối thi ca đồ sộ ông để lại cho hậu thế.

Về phần chúng ta, hôm nay ngồi nơi đây, dành chút thời gian trong cuộc sống đầy bận bịu, mở lại trang thơ Tản Đà "Vịnh Bức Dư Đồ Rách", và ngâm nga đôi câu "Thề Non Nước", bỗng thấy sao mà hợp tình hợp cảnh quá! Dường như chúng ta đang sống cùng trong niên biểu với Tản Đà, hoặc giả tiên sinh đang còn cầm bút làm thơ ở đâu đó quanh ta. Xin thành kính dâng lời tri ân Thi hào Tiến bối, khoảng một thế kỷ trước đây đã viết lên những lời thơ tâm sự xót xa cho chính chúng tôi ngày hôm nay.

Xin cám ơn toàn thể quý vị đã tham dự buổi mạn đàm của chúng tôi.

Trần Quốc Bảo

Tài liệu tham khảo:

- Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim.
- Nhà Văn Hiện Đại, Vũ Ngọc Phan.
- Nước Tôi, Dân Tôi, Đông Tiến.
- Thơ Tuyển Dịch, Đào Hữu Dương.
- Văn Xả 2 (3&4-1990).
- Việt Thi, Trần Trọng Kim.
- Các sách của Tản Đà (Tản Đà Vận Văn, Tản Đà Tùng Văn, Tản Đà Văn Tập I&II)
Tản Bút của Hoàng Ngọc Liên

Tưởng Niệm Cụ Mai Lâm (1915 - 1995)

Một trong những mối duyên tao ngộ dành cho cuộc đời luân lạc, trôi nổi của tôi, là đã hân hạnh được gặp Mai Lâm Đoàn Văn Thăng, người đã khóc Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, lúc Thi Sĩ miền sông Đà núi Tản còn đang khỏe mạnh.

Bài thơ đăng trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy (TTTB) hồi năm 1933, như sau:

Viếng Tản Đà

Ôi thôi! hỡi bác Tản Đà,
Suối vàng nay đã lánh xa cõi đời!
Xa trông mây nước ngậm ngùi,
Tấm lòng thương nhớ, mấy lời viếng thăm.
Nhớ ai vấn vít tơ tằm,
Nước non bao kẻ đồng tâm hẹn hò.
Thơ đầy túi, rượu lưng bồ,
Dẫu nho kiết, cũng danh nho nước nhà.

Ôi thôi! hỡi bác Tản Đà,
Suối vàng nay đã lánh xa cõi đời!
Bác với tôị.. Bác với tôi,
Tuy không quen biết, cũng người đồng bang.
Lại thêm cùng mối văn chương,
Chung tình non nước, tơ vương bên lòng.
Bấy lâu tôi những ước mong,
Có phen dun dủi tương phùng hai ta.

Ôi thôi! hỡi bác Tản Đà,
Suối vàng nay đã lánh xa cõi đời!
Làm chi vội mấy, bác ơi!
Chí cao, nghiệp cả, ai người nối theo?
Thuyền nan ai giữ mái chèo?
Con tàu bản quốc ai liều sóng khơi?
Bức dư đồ rách, ai bồi?
Báo An Nam nghỉ, ai rồi lại ra?

Ôi thôi! hỡi bác Tản Đà,
Suối vàng nay đã lánh xa cõi đời!
Than ôi! Còn đất, còn trời,
Còn non, còn nước, đâu người nước non?
Đà dù cạn, Tản dù mòn,
Danh thơm thi sĩ vẫn còn truyền lâu.
Hồn thơ phảng phất nơi đâu?
Chút tình có thấu cho nhau chăng là.

Ôi thôi! hỡi bác Tản Đà,
Suối vàng nay đã lánh xa cõi đời!

Mai Lâm Đoàn Văn Thăng
(Hoàng Mai, Hè 1933)

Khóc lầm, vì 6 năm sau, cu. Tản Đà mới đem thơ lên bán chơ. Trời, nên Cũng trên TTTB, sau đó đăng bài “Cười Ông Mai Lâm” của Tản Đà:

Nực cười cho bác Mai Lâm,
Thương nhau chi mấy mà lầm khóc nhau?
Suối vàng ai đã vội đâu?
Mà cho ai nhớ ai sầu, hỡi ai!
Tóc tơ vương vít còn dài,
Con tằm còn trả nợ đời chưa xong.
Lửa hương còn chất bên lòng,
Nho tàn còn vẫn trong vòng trăm năm.

Nực cười cho bác Mai Lâm,
Thương nhau chi mấy mà lầm khóc nhau?
Đôi ta đồng quốc, đồng châu,
Lại trong thanh khí tương cầu tương thân.
Gặp nhau rồi cũng có lần,
Cùng nhau còn ở cõi trần trăm năm.

Nực cười cho bác Mai Lâm,
Thương nhau chi mấy mà lầm khóc nhau?
Cõi đời đã lánh xa đâu?
Mà cho ai tiếc, ai sầu, hỡi ai?
Bức dư đồ rách chưa bồi,
Báo An Nam nghỉ, biết đời nào ra?
Hủ nho vô ích nước nhà,
Rượu thơ còn vẫn la cà trăm năm.

Nực cười cho bác Mai Lâm,
Thương nhau chi mấy mà lầm khóc nhau?
Hồn thơ đã mất đi đâu,
Mà cho ai khóc, ai sầu hỡi ai?
Dưới trên còn đất, còn trời,
Còn non, còn nước, còn người nước non.
Đà chưa cạn, Tản chưa mòn,
Còn ai Thi sĩ, lại còn Tri âm.

Nực cười cho bác Mai Lâm,
Thương nhau chi mấy mà lầm khóc nhau?

Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu

Đầu thập niên 50, trong những năm vừa chạy loạn, vừa học thêm ở một tỉnh nhỏ miền châu thổ sông Hồng Hà, tôi có xin được một chân dạy học tại xã Liên Thủy, quận Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Trong số học sinh lớp Nhì, niên khóa 1951-1952, có một cô bé xinh xắn tên là Đoàn Ngọc Kiều Nga. Ít năm sau, khi đã di cư vô Nam, một bữa tình cờ cô bé gặp lại ông thầy cũ ở sân nhà Thờ đường Tôn Đản và mời về nhà chơi. Sở dĩ tôi vui vẻ nhận lời, là vì cô học trò này nói rằng: “ Thầy con nghe con kể lại chuyện đi học ngoài Bắc, đã nhiều lần bảo con tìm địa chỉ thầy để đến thăm, và rất mong được gặp thầy. Nhà con cũng gần đây, xin mời thầy quá bộ đến chơi, nhưng...” Câu nói ngập ngừng, chưa dứt đọan của Kiều Nga làm tôi chú ý. Được tôi hỏi nhưng làm sao, cô bé mới mạnh dạn nói tiếp:

-Ai đến nhà con, trước khi ra về cũng phải họa xong một bài thơ Đường...”

Lúc đó tôi mới 26 tuổi, còn hăng, nên... thử thời vận coi sao, nhân tiện đáp lễ lời hỏi thăm của ... cựu phụ huynh học sinh, bèn lái xe chơ? Kiều Nga về nhà, trên đường Tôn Thất Thuyết, Khánh Hội.

Ngay từ lúc sơ kiến, tôi được biết ông già của Đoàn Ngọc Kiều Nga chính là Mai Lâm Đoàn Văn Thăng, người từng khóc... trật Tản Đà Tiên Sinh trước kia!

Ngày 17 tháng 6 năm 1939, trước Tết Đoan Ngọ năm Ky? Mão 4 ngày, Tản Đà tiên sinh gánh thơ lên bán Chơ. Trời.

Hàng loạt câu đối viếng được gửi tới Ngã Tư Sơ? Hà Nội, nơi Tiên Sinh thất lộc. Tôi chỉ nhớ được hai câu của quý cu. Đồng Sơn và Nguyễn Văn Luận - đều ơ? Nam Định - chánh quán của tôi, do gia phụ ghi lại:



- Nặng “Khối tình con, tài tử giai nhân trời khéo cợt;

- Còn “Thề Non Nước”, văn chương sự nghiệp đất khôn vùi!

(Đồng Sơn, Nam Định)

- Côi Vị ngày nào, chếnh choáng giang sơn ba chén rượu;

- Hà Đồ số hẳn, rỡ ràng sự nghiệp mấy vần thơ.

(Nguyễn Văn Luận, giáo học Nam Định)

Từ năm Tản Đà Tiên Sinh cỡi hạc về trời, cho đến khi tôi được hân hạnh diện kiến cu. Mai Lâm, là 17 năm, nhưng trông Đoàn Tiên Sinh rất tráng kiện lắm. Như vậy, lúc làm thơ xướng họa với nhà thơ sông Đà, núi Tản, ông còn rất trẻ.

Thật là một dịp may, vì nhân cơ hội này, tôi mới biết là cu. Mai Lâm đã gửi đôi câu đối khóc Tản Đà, khi Nguyễn Tiên Sinh thực sự trăm tuổi.

Đây là một đôi câu đối Nôm:

- Bác thật “về” ư? Tiệc Rượu Thần Tiên mong đãi khách;

- Tôi còn ở mãi! Tình Thơ Non Nước vẫn lưu người!

Mai Lâm dùng chữ “thật” chỗ này, thật đắc địa, vì ông đã từng khóc Tản Đà lúc Nguyễn Tiên Sinh chưa về... thật.

Ông cười nói với tôi:

- Thầy giáo đừng khen câu đối nôm của tôi là hay. Hai câu dịch ra chữ Hán của điêu khắc gia Đới Ngạn Quân còn hay hơn nguyên tác nhiều lắm!

Mắt tôi sáng ra:

- Tiên sinh cho nghe đi!

Mai Lâm cầm phấn trắng, viết trên bảng đen, 2 dòng chữ Hán:

- Công quả quy hồ? Tửu Tịch Thần Tiên phương đãi khách!

- Ngã do tại dã! Thi Tình Sơn Thủy vĩnh lưu nhân!

Mãi đến năm 1992, trước khi xuất ngoại, tôi mới tìm được địa chỉ cu. Mai Lâm để đến thăm tiên sinh một lần, có thể là lần chót. Cụ đã già lắm - gần 40 năm rối còn gì -, lại không còn nghe được nữa!

Đoàn Ngọc Kiều Nga, cô học trò nhỏ bé của tôi năm nào, lúc đó đã là bà xã của người bạn thơ văn của tôi: Anh Trần Thúc Vũ, có 3 cháu đã lớn.

Rất may là hôm đó, Kiều Nga cũng đến thăm ông già. Cô “bé” mở cửa, rất ngỡ ngàng, mãi mới nhận ra tôi, vì lúc đó - cũng như bây giờ, hẳn vậy - tôi vừa già, vừa quá xấu, Kiều Nga nhất thời chưa nhận ra ngay.

Cu. Mai Lâm dĩ nghiên cũng không nhận ra tôi. Tôi cầm tay cụ, nghẹn nào:

- Đoàn tiên sinh, tôi đến vấn an tiên sinh đây!

Kiều Nga buồn rầu nói với tôi:

- Hai tai thầy con điếc nặng rồi, không còn nghe được nữa!

Vừa nói, Kiều Nga vừ trao cho tôi cuốn sổ và cây viết vẫn để săAn trên bàn. Cu. Mai Lâm vừa đọc tên tôi là cụ ôm chặt lấy tôi:

- Bác Hoàng! Thầy giáo! Không ngờ còn được gặp lại bác.

Trong buổi sơ kiến năm 1956, cụ đã nói với tôi:

- Chúng ta là những người làm thơ, không cần câu nệ về tuổi tác. Cứ xưng hô bác, tôi với nhau cho thân mật.

Từ đó, cụ luôn gọi tôi là bác Hoàng. Còn tôi, vì trọng cụ là bậc trên, nên vẫn kêu cụ la Đoàn tiên sinh.

Hôm ấy, trong căn nhà của cu. Mai Lâm, cạnh Nhà Thờ của xứ Đạo Hoàng Mai, Gò Vấp - Tôi “bút đàm” với cụ suốt một buổi chiều, khi nhìn ra ngoài thấy trời đã tối, mới đứng lên từ giã cụ. Cụ và con gái tiễn tôi ra phía ngoài. Cụ nắm tay tôi:

- Bác đi bình an, mạnh giỏi! Trước khi lên đường, nhớ ghé thăm cu. Vi Huyền Đắc ở căn nhà cũ tại Ngã Năm Bình Hòa!

Cu. Mai Lâm chưa được biết là cu. Vi đã thất lộc. Nhưng tôi chỉ gật đầu và quay lại nói với Kiều Nga điều này để thưa lại với cụ. Tôi cúi đầu chào cụ, người đã dành cho tôi vinh dự được là bạn vong niên với nhiều hảo cảm.

Mồng 1 tháng 5 âm lịch là ngày giỗ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, tôi là kẻ hậu sinh chẳng có tên tuổi gì đáng kể trong làng thơ, hàng năm vẫn nhớ ngày giỗ cụ. Bởi tôi vẫn nhớ những câu đối kính viếng Cụ, khi Cụ trăm tuổi, trong đó có câu đối của cu. Mai Lâm Đoàn Văn Thăng.

Sau đó, nhiều lần gửi thư về xứ đạo Hoàng Mai, Gò Vấp,để vấn an Cụ nhưng không được hồi âm.

Mãi đến ngày 27 tháng 3 năm 1998, tôi mới tìm được số điên thoại của xứ đạo Hoàng Mai, Gò Vấp để hỏi thăm và được tin cu. Mai Lâm Đoàn Văn Thăng đã thất lộc năm 1995, trong căn nhà mà tôi đã đến thăm.

Cụ để lại những tác phẩm: “Bảy Thánh Vịnh Thống Hối”, “Ngôi Sao Lạ”, “Duyên Thơ” và tập thơ dịch “Sấm Truyền” .

Hoàng Ngọc Liên

Back Next