Tác Giả-Tác Phẩm: Tào Tháo Bị Đuổi

Back Next
Tào Tháo Bị Đuổi
Xuân Vũ TRẦN ĐÌNH NGỌC

Khi còn nhỏ, mỗi lần bị hư bụng, yếu dạ vì ăn đồ sống sít hoặc quả xanh rồi uống nước lã, liên tiếp phải chạy ra “vườn” nhiều lần trước khi nói với mẹ cho mấy viên thuốc tiêu, thuốc đau bụng uống với nước nóng hãm gừng thì thế nào cũng nghe mấy anh, chị nói với nhau:”Bị Tào Tháo đuổi rồi! Cậu nhỏ ăn bậy cái gì đây.”

Nào có ăn bậy cái gì! Chờ mãi thấy mẹ đi chợ về, bánh đa kê là thứ tôi thích hôm nay không có vì mẹ bảo bà hàng bánh bị té lỗ lội rồi, nhưng bù vào, mẹ có mua mấy cái bánh rán nhân đậu xanh, ở ngoài là mật mía mầu nâu sậm quết lên, thằng bé ăn tham nhai luôn hai cái, uống bát nước chè tươi hơi lạnh, phải hôm bụng đang yếu yếu, thế là Tào Tháo đuổi!

“Tào Tháo đuổi” đã trở thành một thành ngữ trong tiếng Việt thời đó để chỉ cái sự tiêu hóa không ổn, cái bụng sôi ùng ục và dĩ nhiên, Tào Tháo đuổi thì phải chạy trối chết thôi. Không chạy không xong!

Nguyên do là từ cụm từ “tháo dạ” rồi các cụ dùng tên Tháo họ Tào, mà thành ra bị Tào Tháo đuổi cho dễ nhớ. “Chớ ăn cái đó vào kẻo Tào Tháo đuổi đấy!” Tào Tháo vốn là Thừa tướng của vua Hán, quyền nghiêng thiên hạ, như ông Thủ tướng bây giờ. Tháo nổi tiếng một tên gian hùng, xảo quyệt ghê gớm đời Tam quốc. Ông ta giết người như ngoé. Và dù thằng bé còn quá bé để đọc Tam quốc chí, để hiểu Tào Tháo đáng sợ ra sao cũng phải dè mồm giữ miệng, ngon mấy cũng không dám ăn thêm nữa.

Trước khi đi vào chuyện Tào Tháo mệnh tuyệt, chúng ta dượt qua vài hàng “triết lí vụn” về đời một con người xem ra sao bởi cái chết của Tháo lúc đó cũng cho nhiều người - xưa và nay - sự suy gẫm đáng đồng tiền bát gạo lắm!

Hữu sinh hữu diệt, hữu hình hữu hoại. Đó là qui luật chung của Tạo hóa cho mọi vật, mọi sinh vật, mọi loài, mọi người trên cái hành tinh được gọi là Trái Đất này. Sinh vật như con chó con mèo ở gần quanh ta, chỉ sống được khoảng 10-15 năm; con gà, con vịt dăm bảy tháng, một năm. Nhưng rùa, có con sống trên một nghìn năm, đã được kể là sống dai nhất trong các sinh vật. Dai thế nhưng rồi cũng phải chết, theo định luật. Núi, đồi cũng sẽ mòn, sẽ lở, sông biển cũng sâu nông một khác, biến đổi hình dạng tính từng thế kỉ nhưng thế nào cũng phải biến đổi!

Theo các nhà Địa chất học, trái đất chúng ta ở đã có trên 4 tỉ năm. Dĩ nhiên từ vài tỉ năm trước so sánh với ngày nay, hai bộ mặt trái đất khác xa nhau lắm lắm. Đó là hoại, là diệt dù diệt để khá lên hay biến hình. Hạt thóc phải mục, vỏ trấu rữa ra nhiên hậu mới cho cây lúa. Cây lúa lớn lên cho bông lúa gồm nhiều hạt thóc để làm thực phẩm cho con người. Cây thông cao lớn phải được đẵn xuống, xay ra bột, cho vào nhà máy để học trò có giấy viết bài. Tờ giấy sau khi dùng rồi lại được nghiền ra thành bột theo một qui trình khác để làm ra giấy, cứ thế mà tiếp diễn. Kim loại từ các cái xe hư, các dụng cụ kim khí cũng theo luật tái chế (recycle) như vậy mà xuất hiện hoặc biến thiên hay biến đi.

Sự sinh trưởng, biến hóa ấy là định luật chung không vật, không loài nào thoát khỏi.

Con người, nhân linh ư vạn vật, trăm năm là thượng thọ, chưa có ai sống tới 130 năm, mới 1/10 đời sống một con rùa; quay đi quay lại đã hết một trăm năm. Tôi rời Việt Nam tháng 4-1975, tính đến nay cứ cho là tròn 32 năm, suýt soát 1/3 của 100 năm (33 năm 4 tháng), thế mà 32 năm vừa qua trôi cái vèo, nghĩ như mới ngày hôm qua hôm kia thôi.

Lại nữa, trong trăm năm một đời người, hết 20 năm đầu còn quá non nớt, hoặc yếu đuối, hoặc ít kinh nghiệm, học chưa nhiều, việc chưa thông, chưa thể gọi là sống cho hết ý nghĩa đích thực của cuộc sống. Ba mươi năm kế tiếp, từ 20 đến 50, được kể là sung mãn, nghị lực dồi dào, mọi việc tiến hành có phần như ý, về trí lực cũng như thể lực. Người khá hơn thì được thêm 5-10 năm giữ được sức lực, trí lực không thì sau đó bắt đầu đi vào tuổi già, mọi khả năng đều kém xuống: nhìn, nghe, ăn, ngủ, đi đứng, tình dục, nói năng, suy nghĩ, làm việc thảy đều mất cái tinh nhanh, khoẻ mạnh, chính xác và dẻo dai.

Đàn bà nói chung từ tuổi 40-45 không thể sinh con được nữa. Ở các nước tân tiến như Hoa Kỳ, Pháp, Anh, Ý, Nhật chẳng hạn, tuổi 40 của đàn bà cũng không phải là tuổi còn thụ thai. Đứa trẻ sinh ra đời mà mẹ đã ở vào tuổi ấy sẽ yếu kém cả về trí lực lẫn thể lực, trong khi tuổi sinh đẻ lí tưởng của đàn bà, theo sách Tâm lí học, là từ 22 đến khoảng 30 tuổi.

Y khoa ngày nay quan niệm 40 tuổi là bắt đầu đi vào tuổi già. Nói riêng với quá trình sinh hoạt của đôi mắt của chúng ta, từ 20 tuổi nó đã bắt đầu đi xuống có nghĩa nó mờ hơn, thị lực kém hơn so với trước đó!

Từ 60, có người là 65 (nên tuổi về hưu ở Mỹ là 65, ở thời VN Cộng hòa miền Nam khi xưa là 55) đa số đi vào tuổi già thực sự, mọi hoạt động đều kém. Dù là công việc văn phòng, việc “cạo giấy”, chủ nhân cũng không muốn mướn các ông bà già từ 55 trở lên nữa trừ phi ứng viên có những đáp ứng cần thiết cho công ti..

Đến tuổi 70, khi xưa các cụ gọi là “nhân sinh thất thập cổ lai hi”, ít người có được cái tuổi ấy, lại càng kém: tai điếc, mắt mờ, chân chậm, không thể lái xe được nữa mà dù có cố lái thì phản ứng cũng chậm, có khi gây ra tai nạn thảm khốc như đã từng xẩy ra: ông lão đau tim lái xe lên cơn bất tử giết cả chục người trên đường.

Như thế, nói chung, 40 năm cuối của cuộc đời 100 năm là 40 năm sống vô vị, vô ích cho xã hội, vô ích cho cả gia đình và bản thân; nếu không nói rằng, với nhiều người, nó còn là gánh nặng cho những người xung quanh và cho xã hội. Xe lăn hoặc đôi nạng là những hình ảnh không mấy hấp dẫn. Xã hội nào có quá nhiều người già từ tuổi về hưu trở lên chắc chắn xã hội ấy kém năng xuất sản xuất mà chỉ có tiêu thụ. Đây là những mối lo của các Chính phủ các nước Tự Do như Nhật, Anh, Mỹ, Pháp, Đức, Tây ban Nha, Ý, Thụy điển, Thụy sĩ v.v...

Một trăm năm qui lại chỉ có 30-40 năm ở khoảng giữa, từ 20 đến 50 hoặc 60 là có giá. Sáu mươi đến 70 năm kia coi như gánh nặng cho chính mình và xã hội.

Cuộc đời ngắn ngủi như thế, phù du như thế, sao con người không tìm ra chân lí mà theo, lại cứ đi theo những học thuyết giả trá, hoang tưởng hay bịp bợm làm hại đời mình và hại cả những người liên hệ với mình hoặc xung quanh, hoặc đồng bào mình!

Không thể đếm xuể những kẻ (ngu si) đó, như Hitler, Eichman, Mussolini, Saddam Hussein, Ceaucescu, Marx, Engels, Lênin, Stalin, Hồ chí Minh, Tần thủy Hoàng, Gengis Khan, Lê chiêu Thống, Trần ích Tắc v.v... Ở đây ta chỉ nêu một trường hợp đặc biệt. Đó là Thừa tướng Tào Tháo. Tào Tháo chỉ quen đuổi người, ấy vậy mà đến lúc Tào Tháo bị dượt có cờ và chết ngắc. Đó là chủ ý của đoản văn này. *

Tào Tháo từ một người tầm thường leo lên đến chức Thừa tướng (giống Thủ tướng bây giờ) điều khiển trăm quan, có thể chèn ép cả nhà vua nhưng rốt cuộc ông ta cũng chết trong tủi nhục.

Tào Tháo nổi danh là một kẻ gian hùng, lưu manh, xảo quyệt và có tính đa nghi tối đa. Người ta thường nói:”Đa nghi như Tào Tháo”Ở mọi trường hợp, Tháo phải ra tay trước:”giết lầm hơn tha lầm, giết lầm hơn bỏ sót” nên y coi ai cũng như kẻ thù, y không tin bất cứ ai (thời cận và hiện đại có một số bạo quyền như Tháo, chủ trương sát nhân diệt khẩu, giết trăm vạn người không gớm tay!).

Truyện kể rằng một lần Tháo bị thua chạy, thầy trò vào tạm nghỉ trong nhà một thường dân, người này có lòng tôn kính Thừa tướng lắm nên sai gia nhân giết gà, mổ heo làm cỗ đãi Tháo và tướng sĩ đi theo. Mấy gia nhân trong lúc thi hành lệnh chủ, bảo nhau:”Bắt lấy nó, giết ngay làm thịt!” tức bắt vịt gà và heo để giết thịt làm cỗ thí Tháo lại nghĩ chúng đang bày mưu để giết Tháo. Tháo ra lệnh giết sạch cả nhà người dân lương thiện này lớn bé già trẻ. Khi cận vệ của Tháo tìm thấy trong bếp một đống gà vịt và heo đang bị vặt lông làm thịt, Tháo mới hiểu ra đã nghi oan người tốt bụng với mình thì sự đã rồi.

Và sau đây là câu chuyện kết cuộc đời Tháo, trích từ Tam Quốc diễn nghĩa của La quán Trung (bản dịch của cụ Phan Kế Bính).

GIAN HÙNG TẬN SỐ

Lại nói qua tình hình tại Xuyên của Lưu Huyền Đức tức Lưu Bị, tức Hán Trung vương.Vào lúc đó, khi được tin Quan Vân Trường bị hại, Hán Trung vương sững sờ và khóc lóc thảm thiết lắm. Khổng Minh khuyên rằng:

- Chúa thượng chớ nên phiền não lắm. Từ xưa có câu:”Tử sinh hữu mệnh” Quan Công xưa nay tính cương quá mà hay cậy mình khoẻ nên mới có vạ này. Chúa thượng nên giữ gìn tôn thể, thong thả sẽ lo việc báo thù.”

Hán Trung vương nói:

- Cô kết nghĩa với Quan, Trương hai em ở vườn đào, thề cùng sống thác với nhau. Nay Vân Trường chẳng may bị hại, cô sao hưởng phú quí một mình được?

Nói chưa dứt lời đã thấy Quan Hưng khóc lóc thảm thiết đi vào. Hán Trung vương thấy vậy, hét lên một tiếng rồi lại ngất lăn xuống đất. Các quan cứu tỉnh. Ngày hôm ấy, Huyền Đức khóc ngất đi bốn, năm dạo.

Trong ba hôm, Huyền Đức không ăn uống một tí gì, chỉ khóc sướt mướt, vạt áo lúc nào cũng ướt đầm đìa, nước mắt đỏ như huyết.

Khổng Minh và các quan tìm mọi cách khuyên giải. Huyền Đức nói:

- Cô với Đông Ngô, thề không soi chung một mặt trời, mặt trăng.

Khổng Minh nói:

- Tôi nghe Đông Ngô đem đầu Quan Công nộp cho Tào Tháo. Tháo đã dùng lễ vương hậu táng cho ông ấy.

Huyền Đức hỏi:

-Thế là ý làm sao?

- Đó là Đông Ngô muốn đổ vạ cho Tào Tháo. Tháo biết mưu đó nên dùng hậu lễ táng cho Quan Công, để chúa thượng oán về Đông Ngô.

Huyền Đức nói:

- Cô này lập tức đề binh sang hỏi tội nước Ngô để rửa hờn đây.

Khổng Minh can rằng:

- Không nên! Hiện nay Ngô muốn ta đánh Ngụy, Ngụy cũng mong ta đánh Ngô. Bên nào cũng mang lòng bất trắc, chực ta hở cơ là chộp. Chúa thượng nên đóng quân lại, không động vội, hãy phát tang cho Quan Công, đợi khi nào Ngô, Ngụy không hòa với nhau ta sẽ thừa cơ đánh cả hai nước nhân thể.

Các quan cũng năn nỉ can ngăn mãi, Hán Trung vương bấy giờ mới nguôi đi một chút liền truyền cho các tướng sĩ trong Xuyên để tang Quan Công. Hán Trung vương ra tại cửa Nam, bày đồ cúng lễ, làm lễ chiêu hồn, khóc lóc cả ngày.

Nói về Tào Tháo ở Lạc dương, từ khi táng xong Quan Công, mỗi đêm hễ nhắm mắt là thấy Quan Công. Tháo sợ hãi quá, hỏi các quan. Các quan nói:

- Cung điện ở Lạc dương nhiều yêu quái lắm, nên lập một tòa cung điện mới mà ở.

- Cô muốn dựng một tòa điện mới, gọi là điện Kiến Thủy, bực vì không có thợ khéo.

Giả Hủ thưa:

- Ở Lạc dương có người thợ tên là Tô Việt, khéo tay khéo chân lắm.

Tháo sai đòi đến, bắt vẽ kiểu trước để xem. Việt vẽ một kiểu tòa điện to chín gian, trước sau có đủ cả hành lang, lầu các. Vẽ xong dâng lên. Tháo xem xong nói:

- Kiểu này thực hợp ý Cô lắm nhưng chỉ ngại không có gỗ nào to mà làm cho xứng.

Tô Việt thưa:

- Cách thành này ba mươi dặm, có một cái đầm gọi là Dược Long. Cạnh chùa có một cây gỗ lê cực to, cao hơn mười trượng, nên dùng làm nóc điện này.

Tháo mừng lắm, lập tức sai thợ đến đẵn cây ấy. Hôm sau thợ về báo rằng:

- Cây ấy cưa không đứt, búa bổ cũng không vào, không sao đẵn được.

Tháo không tin, dẫn vài trăm kị đến trước cửa đền, xuống ngựa, ngẩng mặt lên xem thấy cây lá xum xuê sát đến mây xanh, thẳng tuột không có một chà chạnh nào. Tháo sai chặt xuống. Có mấy ông cụ già lại kêu rằng:

- Cây này đã mấy trăm năm nay, có thần thiêng lắm, không chặt được đâu.

Tháo nổi giận mắng:

- Ta bình sinh trải khắp dưới gầm trời hơn bốn mươi năm nay, trên từ thiên tử, dưới đến thứ dân, ai cũng phải sợ, yêu thần nào dám trái ý ta?

Nói xong, bèn rút gươm ra chặt mấy nhát thì thấy có tiếng kêu sang sảng, máu chảy ròng ròng ở thân cây. Tháo sợ hãi, quăng gươm, lên ngựa về cung.

Canh hai đêm hôm ấy, Tháo nằm không yên, đương ngồi ở trong điện ngả mình xuống ghế ngủ gà, bỗng thấy một người xõa tóc, tay cầm thanh kiếm, mình mặc áo thâm, đến trỏ vào mặt thét mắng rằng:

- Ta là thần ở cây gỗ lê đây. Mày làm đền Kiến Thủy, sắp muốn cướp ngôi nhà Hán, dám đến chặt cây thần của ta. Ta biết số mày sắp hết, nên đến giết mày đây!

Tháo giật mình vội hô lớn:

- Võ sĩ đâu cả, chúng bay?

Tháo kêu chưa dứt lời, người ấy cầm gươm toan chém Tháo một nhát. Tháo hét to một tiếng, giật mình tỉnh dậy, đầu nhức như búa bổ, không sao chịu được. Tháo sai đi cầu những danh y về chữa, càng không thấy khỏi. Các quan đều lo lắng. Hoa Hâm vào tâu rằng:

- Đại vương có biết thần y Hoa Đà không?

Tháo hỏi:

- Có phải là người chữa cho Chu Thái ở Giang Đông chăng?

- Chính phải.

- Người ấy thì Cô cũng nghe tiếng nhưng không biết nghề nghiệp của hắn ra sao?

- Hoa Đà tên tự là Nguyên Hóa, người ở Tiêu quận nước Bái, nghề thuốc cực tài, trong đời hiếm có.

Phàm những người nào có bệnh hoặc dùng thuốc hoặc mổ hoặc chích, hơi động tay vào là khỏi. Nếu ai đau ở trong phủ tạng thì cho uống thang ma phế, để cho người ốm say mê đi như chết, lấy dao mổ bụng ra, không đau đớn chút nào, dùng thuốc rửa sạch rồi khâu lại, dịt thuốc vào, chỉ một tháng hoặc hai mươi ngày thì khoẻ như thường. Đà chữa bịnh gì cũng tài tình như thế.

Một bữa, Đà đi ngoài đường, nghe có tiếng người rên khừ khừ. Đà nói:” Đây là bệnh ăn uống không tiêu đây.” Hỏi ra thì quả nhiên như thế. Đà sai vắt ba bát nước hẹ cho uống. Người ấy uống xong, thổ ra một con rắn dài hai ba thước, bấy giờ ăn uống mới tiêu.

Quan Thái thú Quảng lăng là Trần Đăng, trong bụng buồn bã khó chịu, ngoài mặt thì đỏ như gấc, không ăn uống gì được, mời Đà đến xem bệnh. Đà cho uống thuốc. Đăng thổ ra ba đấu trùng, con nào cũng đỏ đầu mà đầu đuôi cựa quậy được (trùng này ngày nay có tên là Trùng Đỏ, red worm, chú thích của người viết bài này). Đăng hỏi, Đà bảo rằng:” Bệnh này là ăn nhiều cá gỏi cho nên sinh ra lắm trùng, tuy chữa khỏi được bây giờ nhưng ba năm nữa tất nhiên lại phát, không sao chữa được nữa (vì trùng ăn vào tận xương tận tủy, hút máu hút mủ bệnh nhân). Sau ba năm, quả nhiên Đăng lại sinh bệnh ấy rồi chết.

(còn tiếp)

Nhà Văn Xuân Vũ TRẦN ĐÌNH NGỌC

Back Next