Sức Khỏe: Các bà mẹ cần biết

Back Next
BĂNG HUYẾT NẶNG THỜI KỲ SỔ NHAU KHI SINH
Giáo Sư Phạm Gia Đức

Băng huyết là một biến chứng nặng của sản khoa, dễ dẫn đến tử vong do mất máu từ chỗ nhau bám trong tử cung, xuất hiện ngay sau sinh hay trong vòng 1 giờ đầu sau sinh. Số lượng máu mất có thể rất nhiều làm cho sản phụ rơi vào shock tình trạng trở thành nghiêm trọng, phải chẩn đoán được sớm trước khi xuất hiện hội chứng rối loạn đông máu, máu không đông được gọi là sự mất sợi huyết cấp (defibcination aigue).

Hiện nay, ở nước ta mỗi năm có trên 1,5 triệu người sinh, cho nên biến chứng chảy máu sau sinh là điều khó tránh; Cũng như người mẹ tử vong vì mất máu là một thực tế và là một trong 3 nguyên nhân chính làm tử vong mẹ mỗi năm (nhiễm khuẩn, chảy máu và sản giật).

Nguyên nhân bệnh

Trên thực tế sự ước lượng máu mất rất khó xác định chính xác song có những nguy cơ có thể biết được trước khi sinh: Số lần sinh, đa thai, tử cung có sẹo, đã từng sinh mổ, tiền sử sinh băng huyết. Hoặc những yếu tố nguy cơ chỉ xảy ra lúc sinh: Chuyển dạ kéo dài, sinh bằng thuốc, bong nhau kéo dài, sinh mổ, sinh can thiệp bằng thủ thuật… Sự hiểu biết nguy cơ này, sẽ giúp ta sẵn sàng đối phó với biến chứng có thể xảy ra, ảnh hưởng đến kết quả điều trị.

Biến chứng này có khoảng 90% là do nguyên nhân ở tử cung như đờ tử cung, tử cung co bóp kém (58%), vỡ hay nứt theo vết mổ cũ (2%), sót nhau bánh nhau phụ (28%). Ngoài ra do rách phần mềm âm đạo và tầng sinh môn (4-8%) thường do làm phoóc-xép, kéo đại thai khi điều kiện sinh chưa đủ làm rách cổ tử cung, rách âm đạo và tầng sinh môn…

Ở nước ta, những phụ nữ sinh đẻ ở nông thôn, vùng sâu vùng xa, điều kiện kém, trang thiết bị y tế thiếu thốn, cũng góp phần làm tăng tần xuất biến chứng lúc sinh.

Điều trị bằng nội và sản khoa

Để đảm bảo an toàn cho mẹ và con, điều cốt lõi phải đi tìm nguyên nhân và không được để sót dù là nguyên nhân rất nhỏ như rỉ máu ở thành âm đạo, vết cắt tầng sinh môn để điều trị.

Nội khoa: 80% chảy máu do tử cung co hồi kém hay đờ tử cung. Trước khi dùng thuốc để làm co hồi tử cung như oxytocin (Aynto-cinon) ergot de seigle (ergotonine, ergonetrine) thầy thuốc hay nữ hộ sinh phải chắc chắn buồng tử cung đã rỗng do đó nếu bệnh nhân từ nơi khác gửi đến phải kiểm soát tử cung.

Oxytocin: Làm tăng cường độ và tần số cần co và tạo sự thuận lợi để giải phóng prostaglandines do tác dụng đồng vận. Ưu điểm của thuốc: Theo đặc điểm không có chống chỉ định sản sinh băng huyết từ tử cung, chích bắp hoặc chích tĩnh mạch tác dụng sẽ nhanh sau 1 phút hoặc 1/2 phút và nếu muốn tác dụng kéo dài, chích nhỏ giọt tĩnh mạch cùng với huyết thanh ngọt đẳng trương. Nhớ là không nên dùng quá 80 đơn vị quốc tế (uống 5 đơn vị quốc tế).

Ergot de seigle: Tác dụng trên thụ thể alpha-adrenergique vừa gây co tử cung và co mạch. Ở Anh, thuốc có dạng phối hợp với oxytocin gọi là Syntonetrine. Dùng chủ yếu đường bắp thịt, tác dụng chậm so với oxytocin phải từ 2-5 phút song tác dụng kéo dài từ 4-6 giờ. Tác dụng phụ không quan trọng như nhức đầu, đau thắt tim.

Prostaglandines gồm có: PgE 1 (Cytotec = nisoprostol): Ở châu Âu, thường được dùng để làm mềm cổ tử cung và gây sẩy thai. Hiện nay ở ta đã dùng rất nhiều trong việc chấm dứt thai kỳ với tác dụng trên. Còn có thể dùng phối hợp với oxytocin để chữa trị chảy máu trong thời kỳ sổ nhau.

PgE 2 (Nalador = onlprostone): Có tác dụng tốt trong điều trị đờ tử cung (95%), dùng đường tĩnh mạch 500mg trong giờ đầu và duy trì 500mg trong 5 giờ sau. Tác dụng phụ: Nôn ói, co thắt phế quản cho nên không dùng khi bệnh nhân bị hen, bệnh lý tim mạch, người trên 35 tuổi.

Điều trị nội khoa như trên, cần phục hồi khối lượng tuần hoàn và thở oxy. Theo dõi huyết động học bằng xét nghiệm đông máu là để phát hiện sớm đông máu rải rác trong lòng mạch (CIVD).

Sản khoa: Ở đây nhằm mục đích làm rỗng buồng tử cung bằng cách bóc nhau nhân tạo và kiểm soát tử cung. Động tác can thiệp này phải làm sớm khi bệnh nhân vào bệnh viện ra máu âm đạo nhiều để có thể xác định được nguyên nhân chảy máu như còn sót nhau hay vỡ tử cung. Đồng thời với bàn tay trong tử cung hướng dẫn mũi kim chích thuốc co bóp tử cung.

Tác dụng: Có thể hạn chế được chảy máu do đờ tử cung, ít ra là 20-30% lượng máu mất kèm theo là duy trì truyền tĩnh mạch dung dịch huyết thanh ngọt có pha 10 đơn vị oxytocin nhỏ giọt. Đồng thời không quên (Oxytocin) thông tiểu, (Ergot de seigle) xoa bóp tử cung ngoài thành bụng, (Prostaglandines) kiểm tra đường sinh dục dưới (cổ tử cung, âm đạo, tầng sinh môn) bằng van dưới ánh sáng tốt.

Điều trị bằng ngoại khoa: Điều cần thiết và quan trọng trước khi phẫu thuật là bác sĩ sản cần khẳng định được tử cung trống rỗng, cổ tử cung, âm đạo không bị rách do chấn thương lúc sinh.

Người thầy thuốc sản khoa phải có kinh nghiệm cấp cứu những trường hợp nặng như khi phải đối phó với sự băng huyết nặng như đã nói ở trên. Để cầm máu triệt để bằng cách cắt tử cung hoàn toàn trong tình trạng nặng này, bác sĩ cần có tay nghề để từng bước quyết định cách xử trí thích hợp, hoàn cảnh và nguyện vọng của người bệnh cần được lưu ý: Tuổi, lần sinh, số con sống, nguyện vọng sinh của vợ chồng. Có nhiều cách để cầm máu đặt ra:

Thắt các mạch máu đến tử cung

Cắt tử cung hoàn toàn để cầm máu triệt để

Tương lai của vấn đề

Gần đây, người ta nói đến một kỹ thuật mới đó là việc thực hiện nguyên tắc làm nghẽn động mạch tử cung 2 bên không phải dùng phẫu thuật. Chưa thấy thực hiện ở các bệnh viện lớn ở nước ta. Kỹ thuật không khó lắm và ta có thể làm được. Đó là dùng chất để gây nghẽn mạch dạng như Apongel vẫn dùng trong ngoại khoa và nó tự tiêu từ 10-30 ngày sau.

Vấn đề chảy máu tử cung trong thời kỳ sổ nhau này phải xử lý khẩn trương nên không cho phép kéo dài thời gian làm kỹ thuật và cần có sự chỉ định thống nhất giữa các bác sĩ sản, bác sĩ gây mê hồi sức và bác sĩ X-quang.

Dùng kim chọc vào động mạch đùi 1 bên theo kỹ thuật Seldinger, rồi dùng 1 ống thông luồn đến động mạch tử cung ở mỗi bên đi qua nhanh sau của động mạch hạ vị rồi bơm Afongel. Thời gian làm thủ thuật lần đầu phải mất từ 30 phút đến 2 giờ, sau bơm thuốc chụp động mạch lại lần thứ 2 để kiểm tra sự thuyên tắc tốt và đúng vị trí quy định trên động mạch.

Chủ yếu gây tê tại chỗ và theo dõi nơi chọc dò, mạch bên dưới các chi, lượng nước tiểu cũng như chức năng thận. Chỉ khi nào huyết động học và sự đông máu trở lại bình thường mới được rút các ống thông động mạch, thông thường phải mất 24 giờ.

Đây là 1 tiến bộ mới về kỹ thuật trong sản khoa song chỉ định có lẽ dành cho phụ khoa nhiều hơn.

Back Next