Powered by Jitbit AspNetForum free trial version.
home recent topics recent posts search faq  

SaigonGate :: Forum


register | lost password |
recent posts - RSS

Home » Recent messages

2/5/2012 7:39:34 PM
Topic:
Tình Lính

Hieunguyen11
Hieunguyen11
Posts: 462
Tình Lính
Lời giới thiệu:

Thời chinh chiến có chuyện tình vui cũng có chuyện tình buồn. Chuyện tình buồn: Năm năm rồi trở lại. Một màu tang ngút trời. Tình buồn là anh trở về dang dở đời em. Là hình ảnh chỉ một chiếc khăn sô đã làm tang tóc cả khung chiều. Em đi qua cầu có gió bay theo. Thổi bùng khăn tang trắng giữa khung chiều. Cũng ngọn gió vô tình đó đã ...Thổi lòng em xa đến mãi nơi nào. Là hình ảnh người vợ Ôm mồ cứ tưởng ôm vòng người yêu. Tình vui chỉ trong phút giây mà ý sầu thì ngút ngàn suốt đời. Nhưng cũng có hình ảnh người yêu tay trong tay dung dăng dung dẽ. Hình ảnh người thủy thủ muốn viết thư cho người yêu nhưng không thể vì tàu lắc lư trong biển trăng tình tứ. Có chuyện tình nở hoa bên thép súng nhưng chuyện tình của Kỵ Binh Nguyễn Hiếu lại nở hoa bên tách cà phê thơm ngát trong khói thuốc huyền ảo và một quán cà phê nho nhỏ nhưng ấm áp tình nồng . Nơi đó có chàng Kỵ Binh và cô hàng cà phê. Không giống như chàng trai si tình trong cô hàng cà phê của nhạc sĩ Canh Thân, Kỵ Binh Nguyễn Hiếu đã đem tình yêu em đến chiến trường máu lửa. Tàn trận chiến lại về bên em , bên tách cà phê kể chuyện chiến trường với môi em ngọt ngào. Chuyện chiến trường máu lửa, chuyện tình yêu chất ngất hòa quyện lẫn nhau tạo thành một bức tranh đặc thù : Chuyện Tình Thời Chinh Chiến.
Năm tháng rồi sẽ qua đi. Chiến tranh rồi sẽ chấm dứt.. Các cuộc cách mạng sẽ thôi bùng nổ. Chỉ còn lại trong tim ta tình em không phôi pha ngàn đời bất diệt. Thôi thì dẫu mộng không thành thì cũng xin giữ lấy tình yêu ngày đó như một kỷ niệm đẹp của một thời chinh chiến đã qua.
Xin trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả , quý chiến hữu chuyện tình dang dở của Kỵ Binh Nguyễn Hiếu trong thời chinh chiến xa xưa

Kỵ Binh NguySaigon

Tình Lính

Những ngày tháng Giêng, năm 1973 đơn vị tôi đóng quân tại quận Phú Giáo, tỉnh Bình Dương khoảng hơn hai tháng. Ta và địch đặt trong tình trạng án binh bất động của Hiệp Định Ngưng Bắn da beo. Trong thời gian dưỡng quân này, tôi thường ra chợ Phú Giáo uống cafe nghe nhạc tại một quán nhỏ. Ở đây có một cô bé thường bưng cafe cho tôi trông rất dễ thương. Cô ta tên KO, con của chủ quán.

Mỗi lần đến uống cafe, cô ta mở nhạc từ dàn máy AKAI, vào thời đó là số một rồi. Cô thường cho tôi nghe nhạc Phạm Duy qua giọng ca Lệ Thu, nhạc Trịnh Công Sơn, Vũ Thành An qua giọng ca Khánh Ly. Từ đó tôi bắt đầu ghiền nhạc. Có lần KO hỏi tôi thích loại nhạc gì, của ai ? Tôi nói : "Trời sinh Phạm Duy, trời sinh Lệ Thu. Trời sinh Trịnh Công Sơn, trời sinh Khánh Ly. Trời sinh Hiếu, trời sinh KO." KO nói: "Chắc anh đá banh hay lắm, anh lừa banh vòng vòng rồi anh đá ngay chốc vào khung thành." Tôi cười đúng ý.

Những lúc vắng khách, tôi thường kể chuyện chiến trường cho KO nghe, cô rất thích. Đặc biệt nhất là mỗi lần kể chuyện, KO thường tặng tôi thêm một ly cafe. Những ngày cuối tháng không có tiền, KO vẫn bán thiếu và ghi vào sổ nợ. Đầu tháng lãnh lương, tôi mang tiền ra trả và nói: "Anh với KO không còn nợ nần gì nhau nữa nhé!" KO không lấy tiền và nói: "KO muốn anh thiếu nợ KO suốt đời." Tôi và KO cùng nhìn mưa rơi bên ngoài, từ máy AKAI với giọng Lệ Thu: "Tình vui trong phút giây thôi, ý sầu nuôi suốt đời..." Nghe xong bài hát, KO muốn nghe chuyện chiến trường. Nghe xong, KO nói: "Tội nghiệp mấy anh lính quá!" Tôi nói: "Anh đã quen rồi chuyện đi, và quen xa ánh đèn phố thị......Nay anh trấn tiền đồn Ben Het, ngày mai anh băng rừng sang Hạ Lào, thì anh đâu có gì em ước mơ!" KO nói: "Em có đòi hỏi gì đâu, đã biết rằng anh bàn tay trắng đi vào đời..."

Ôi! Tình yêu thật mầu nhiệm, chỉ có tình yêu mới làm vơi đi những nhọc nhằn, gian khổ của người lính. Không có tình yêu nào nhiều mong đợi, nhớ nhung bằng tình lính, không có lời thơ nào đẹp hơn những lời thơ mà người lính viết về cho người yêu bé nhỏ từ phương trời xa xôi, dịu vợi, từ tiền đồn heo hút, từ chiến trận vừa tàn.

Ở Phú Giáo được hơn hai tháng, đơn vị tôi phải đi hành quân vùng Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Tôi tới từ giã KO, may là ba má của cô đi chợ Bình Dương để mua hàng. KO đóng cửa quán, tôi ôm KO vào lòng. Tôi nhớ hôm đó KO khóc nhiều nhưng nói ít. Tôi hôn lên má KO, và mãi tới bây giờ tôi vẫn không quên nụ hôn cùng những bài Tình Ca lúc quen KO. “Em hỏi anh bao giờ trở lại, anh trả lời mai mốt anh về…”

Chúng tôi vừa đến chiến trường Tân Uyên thì trời đã tối, nghỉ ngơi qua đêm. Sáng hôm sau, cơm nước xong là bắt đầu rời tuyến xuất phát vào vùng hành quân. Vừa đi được khoảng một tiếng đồng hồ thì địch đồng loạt nổ súng. Tiếng đạn AK-47, tiếng xé gió B- 40, đại bác 57 ly, thượng liên 12.8 ly, và cối 82 ly đồng khai hỏa cùng một lúc để áp đảo tinh thần chúng tôi. Nhưng những người lính Kỵ Binh trẻ vẫn không nao núng.

Sau hơn hai giờ giao tranh ác liệt, chúng tôi làm chủ chiến trường. Địch để lại nhiều vủ khí và xác chết vung vãi khắp nơi. Chúng tôi đã chiếm được mục tiêu với số bị thương của anh em không đáng kể. Anh em lục soát mục tiêu, thu dọn chiến trường thì phát hiện ra đây là hậu cần của địch. Nhiều chảo cơm to cùng thịt heo kho còn nóng hổi, không kịp mang theo vì bị đánh bất ngờ. Phần thì vừa mệt, vừa đói bụng, tôi thấy anh em ăn ngon lành, tôi cũng nhập cuộc cho trọn tình trọn nghĩa, có chết thì chết chung cho có bạn và được làm ma no, khỏi cúng. Chiều xuống, đơn vị di chuyển ra đường Liên Tỉnh Lộ để bố trí và đóng quân.

Nằm trên ghế bố phì phà thuốc lá, tôi lại nhớ đến KO.

"Anh nhớ tiếng, anh nhớ hình, anh nhớ ảnh"
"Anh nhớ em, anh nhớ lắm em ơi!"
"Anh nhớ em của ngày tháng xa khơi"
"Nhớ đôi môi đang cười ở phương trời"
"Nhớ đôi mắt đang nhìn anh đăm đắm"
"Em xích lại và đưa tay anh nắm"
"Gió bao lần, từng trận nhớ thương đi..."

KO ơi! Em nhớ anh bao nhiêu buổi, anh nhớ em bấy nhiêu ngày. Những bài Tình Ca mà anh và em đã nghe qua bây giờ sao thắm thía vô cùng. "Ta thấy em đang ngồi khóc, khi rừng chiều đổ mưa..." KO ơi! anh muốn trở lại những ngày hạnh phúc, êm đềm bên em. Ở đó không có tiếng súng. Ở đây rừng chiều buồn lắm em ơi! Nhưng mơ ước chỉ là ước mơ. "Áo em bây giờ mờ xa nẻo mây..."

Có chuyến tiếp tế từ hậu cứ lên vùng hành quân và tôi đã nhận được thư của KO. Tôi ôm thư vào lòng, và nhắm mắt lại để tận hưởng trọn vẹn cái cảm giác sung sướng đó. Nhận được thư người yêu trong vùng hành quân, đó là niềm hạnh phúc vô biên của những người lính xa nhà, xa người yêu. Tôi thường hôn lá thư trước khi mở ra đọc để tìm lại mùi hương của người yêu. "Nhớ tới mùa thu năm nao gửi nhau phong thư ngào ngạt hương..." Tôi đọc ngấu nghiến không biết bao nhiêu lần, nhất là những lời yêu thương nồng ấm. Trong thư KO có nói là vẫn thường nghe bài hát "Tình vui trong phút giây thôi, ý sầu nuôi suốt đời......Lệ rơi lắp mấy tuổi tôi, mấy tuổi xa người..."

Sau chiến thắng Tân Uyên, cầm trong tay tờ giấy phép 72 giờ, tôi thấy lòng mình tưng bừng, rộn rã. Tôi phải tranh thủ thời gian cho gia đình và người yêu.“Bốn giờ đi lại thêm bốn giờ về, thời gian còn lại, anh cho em tất cả em ơi!..” Thật đúng là người yêu của lính sống bằng 24 giờ phép, bằng bảy ngày đợi mong, bằng sau ngày hành quân, nhưng không bao giờ ngăn cách, không bao giờ quên anh. Cho dù anh có trở về trên đôi nạng gỗ, em vẫn bên anh dạo phố mùa Xuân, vẫn là người tình chung thủy như loài hoa không vỡ.

Vừa về đến nhà, mẹ tôi nắm thật chặt tay tôi và hỏi han đủ thứ. Hôm nay mẹ tôi nấu món cá rô kho tộ, canh chua cá bông lau, là món mà tôi thích nhất, tôi nghĩ chắc các bạn cũng thích nữa. Tối đến mấy đứa cháu, con bà chị ngồi quây quần bên nồi chè trôi nước, và nghe tôi kể chuyện chiến trường. Có đứa nói lớn lên đi lính Thủy Quân Lục Chiến, có đứa thích Nhảy Dù, đứa thì thích Không Quân. Tôi hỏi: “Tại sao không đứa nào thích Thiết Giáp hết vậy?” Chúng nói: “Đi Thiết Giáp dễ bị chết cháy lắm!” Tôi nói: “Không dễ đâu, Thiết Giáp là mình đồng, da sắt, còn của quí thì bằng xi măng.” Chúng cười !

Sáng sớm hôm sau, tôi vọt Honda lên Phú Giáo thăm nàng. Gần tới nhà sao trái tim Thiết Giáp lại đập mạnh như trống liên hồi tan học. Tôi gõ cửa, KO ra mở cửa và mừng rỡ, tôi vào nhà chào ba mẹ của nàng. KO cho tôi biết là đã nói chuyện hai đứa cho ba mẹ biết rồi, và bảo tôi xin phép cho hai đứa đi chơi. Mẹ nàng nói: “Đi chơi chiều phải về sớm để ăn cơm.” Nghe câu đó, tôi thấy lòng mình lâng lâng lên một niềm vui sướng.

Chúng tôi rời Phú Giáo, theo QL 13 để đi Lái Thiêu. Tôi thầm trân trọng cái hạnh phúc bên người yêu, và tình yêu của lính là thứ tình nồng nàn hơn tình yêu dân sự, một thứ tình nhiều nhung nhớ vì thường xa cách nhau. “Hạnh phúc như đôi chim uyên tung bay giữa trời nắng ấm, hạnh phúc như sương ban mai long lanh đầu cành lá thắm…”

Đến Lái Thiêu, chúng tôi vào một vườn trái cây bát ngát, bao la thưởng thức những đặc sản như măng cụt, bòn bon, dâu, sầu riêng…Ăn xong tôi và KO ngồi tựa vào nhau cùng nói chuyện tương lai. “Mình tựa vào nhau cho thuyền ghé bến, sưởi ấm đời nhau bằng những môi hôn, mình cầm tay nhau nghe tình dâng sống nổi, hãy biến cuộc đời thành những tối tân hôn…” Thật ra thì nói để cho có chuyện nói, chớ đời lính thì làm gì có tương lai mà tính! Tôi kể chuyện chiến trường Tân Uyên cho nàng nghe. KO nói: “Em đang nghĩ tới một điều em sợ không dám nghĩ, tới một người đi giữa chiến chinh, lại nghĩ tới anh, nghĩ tới anh…”

Chiều xuống mau quá, ôm em trong tay để tận hưởng những giờ phút heo hút, vì biết chắc mai đây anh lại nhớ em, tôi nói trong rung động: “Thôi… mình… về… em!” Tôi lại đặt lên má nàng một cái hôn thật dài, thật nồng nàng.

Vào đầu tháng Năm, 1974 đơn vị có nhiệm vụ giải tỏa mặt trận An Điền, thuộc quận Bến Cát, tỉnh Bình Dương, đồng thời đánh thốc lên Căn Cứ 82, Rạch Bắp, hướng lên Trị Tâm, tỉnh Tây Ninh. Đây là những địa danh khét tiếng thuộc Quân Đoàn III trong mùa hè 1974.

Chi Đoàn Kỵ Binh chúng tôi di chuyển suốt đêm dọc theo Quốc Lộ 13, đến tờ mờ sáng chúng tôi đến bố trí bên này sông Thị Tính, gần chợ Bến Cát. Các đơn vị thuộc Trung Đoàn 52, SĐ 18 BB, của Đại Tá Ngô Kỳ Dũng đánh cầm cự để Công Binh bắt cầu phao qua An Điền. Đây là một công việc hết sức cam go cho Công Binh.

Đợt đầu, khi Thiết Giáp qua cầu phao vượt sông Thị Tính, cầu phao nghiêng qua, nghiêng lại vì một chiến xa M- 41 bị bắn ngay pháo tháp, sau đó rớt xuống sông. Chúng tôi phải trở lại bên này sông tái bố trí để chờ Công Binh sửa cầu lại. Cầu sửa xong, các đơn vị Bộ Binh tiến qua bên kia cầu đánh yểm trợ để Thiết Giáp vượt qua. Vừa qua khỏi cầu, thì cũng là lúc bắt đầu một trận đánh khốc liệt với hơn một Trung Đoàn BV cùng xe tăng T-54, PT- 76, và đại pháo 130 ly. Chúng tôi vừa đội pháo, vừa đánh chiếm An Điền, một mục tiêu phải chiếm lại bằng mọi giá, trước khi nói tới Căn Cứ 82, Rạch Bắp. Địa hình xung quanh mục tiêu toàn là ruộng rẫy, không phải chiến trường lý tưởng cho Thiết Giáp. Pháo địch tàn khốc hơn Xà Bang, Bình Giả, phải đánh vất vả hơn Tân Uyên.

Sau Khi chiếm lại được An Điền, tôi đứng trên M-113 nhìn xung quanh đổ nát, nhiều xác địch sình thối mà tưởng chừng đây là địa ngục trần gian. Hai chiếc T-54 sụp xuống một cống nước, và bị Bộ Binh bắt sống. Một chiếc T-54 sau này được đưa về Dinh Độc Lập để trưng bày ngay trước cổng dinh.

Sáng hôm sau thức dậy, tôi cảm thấy vui mừng là vì biết mình còn sống qua một ngày mới, sau nhiều ngày giao tranh với quân thù. Hình hài này là do cha mẹ tạo ra, nhưng chiến tranh quyết định sự sống còn! Thật có chồng lính chiến dễ trở thành góa phụ. “Em không nhìn được xác chàng, anh thêm lon giữa hai hàng nến trong, mùi hương cứ tưởng hơi chồng, ôm mồ cứ tưởng ôm vòng người yêu…” Trong thời chiến, có những người vợ rất trẻ, khoảng ngoài đôi mươi đã trở thành góa phụ. Cho tới những ước mơ nho nhỏ, bình thường của người lính mà cũng không có được. “Trả súng đạn này, khi sạch nợ sông núi rồi, anh trở về quê tìm tuổi thơ mất năm nào…”

KO ơi! Em phải biết rằng em đang hạnh phúc hơn nhiều người, vì sau trận chiến, nhiều bạn bè anh đã nằm xuống, vĩnh viễn xa người yêu. Và anh vẫn còn sống để trở về bên em, để yêu em nhiều hơn, và để được nghe em hờn dỗi.

“Được hờn nhau sung sướng biết bao nhiêu”
“Anh một mình nghe tất cả buổi chiều”
“Vào chầm chậm ở trong hồn hiu quạnh…”

Vào những ngày đầu tháng Ba, 1975, chiến trường bắt đầu gia tăng cường độ khắp nơi, chúng tấn công bằng nhiều đơn vị chủ lực chính quy. Đơn vị chúng tôi cùng các lực lượng Bộ Binh thuộc Trung Đoàn 52, SĐ 18 BB phải trải ra rất mỏng từ cầu La Ngà đến ngã ba Dầu Giây, Long Khánh để bảo vệ QL 20, đường lên Đà Lạt..

Trong lúc Chi Đoàn chúng tôi cùng một Tiểu Đoàn Bộ Binh đang mở đường và đánh thốc lên hướng Xuân Lộc, thì chiếc M-113 chỉ huy của chúng tôi nằm lại ở tiền trạm để giữ một xe GMC đầy những phuy xăng, cùng với một lực lượng trừ bị Bộ Binh.

Trong đêm đó, tôi cùng Th/úy C. không ngủ được, như có một linh tính báo trước. Chúng tôi thức trắng đêm hút thuốc lá và uống café. Th/úy C. nói với tôi: “Trận này chắc mình thua quá Hiếu ơi!”Th/úy C. nói tiếp bằng một giọng thật buồn: “Hơn ba tháng rồi chưa được đi phép, nhớ nhà quá!” Mãi tới bây giờ trong lúc viết bài này, tôi vẫn còn nghe câu nói ấy văng vẳng bên tai tôi. À! Tôi còn quên một việc nữa là Th/úy C. cùng tuổi với tôi. Sáng sớm vừa nhận lệnh là dẫn xe xăng lên tiếp tế, vì áo của Th/úy C. còn ướt nên mượn áo tôi. Trong xe chỉ huy có Th/úy C., tôi, Hạ Sĩ Đ., Hạ Sĩ B. và Hạ Sĩ Th.

Dẫn xe xăng vừa băng qua QL 1, tại ngã ba Dầu Giây, nhìn về phía tay phải khoảng 200 mét, tôi thấy mấy bụi cây nhúc nhích măc dù trời không có gió. Tôi nhảy xuống xe định kéo Hạ Sĩ B. xuống để chui vào pháo tháp quay đại liên bắn vào những bụi cây thì…Oành…Oành…Oành, ba trái đạn B-40, đại bác không giật 57 ly trước khi chạm nổ các cây cao su thì hai đầu của Th/úy C. và Hạ Sĩ Th. bể nát, tài xế xe GMC cũng bị chết tại chỗ. Khi Hạ Sĩ Th. bật người ra, chân đá vào bá súng đại liên 30, thì nòng súng đặp vào ngưc tôi đau nhói. Hạ Sĩ B. ôm chân tôi hoáng hốt, tôi nói: “ Đừng sợ, hồi nãy tụi nó nhắm kỷ mà mình không chết, thì bây giờ không chết đâu.” Quả thật đúng như lời tôi nói. Tôi kéo hai xác vào xe vì sợ xe chạy rồi rớt xuống đất. Nhìn lên túi áo đầy máu của Th/úy C. tôi thấy tên tôi. Tôi nghĩ nhanh là Th/úy C. chết thay tôi.

Địch tưởng trong xe chết hết, chúng la to: “Các đồng chí xung phong!” chúng ùa ra, tôi bảo tài xế Đ. chạy ngược ra, đồng thời tôi quay đại liên 30 qua quạt chúng, tôi thấy nhiều thân người trúng đạn, dựng đứng rồi té xuống. Chúng tôi chạy thoát về tiền trạm và được trưc thăng tải thương về Biên Hòa. Trong lúc trưc thăng bay lên, chúng bắn theo nhưng không trúng.

“Anh trở về hàng cây nghiêng ngã, anh trở về người đã bị thương…” Về bệnh viện Biên Hòa điều trị vì ho ra máu, tôi nhờ y tá đánh điện về cho KO, tôi không dám gửi điện tín về gia đình vì sợ mẹ tôi xúc động mạnh. Ba ngày sau KO tới thăm, nàng khóc thật nhiều. Tối ra Biên Hòa ở nhà cô, sáng KO mua quà vào thăm và ở lại cho đến tối. KO nói: “Nghĩ đến một điều em sợ không dám nghĩ, lại nghĩ tới anh…”

Cuối tháng 3/75, sau khi xuất viện, tôi trở lại đơn vị. Lần này cuộc chiến ác liệt hơn, ngày nào cũng đánh, một chọi 4, 5. Mãi tới ngày 24, 25/4, Chi Đoàn chúng tôi phải cứu Chiến Đoàn 52 và mở đường máu ra, rút khỏi Long Khánh để thả 2 trái bom CBU tiêu diệt khoảng 4, 5 ngàn quân BV.

Bây giờ Chi Đoàn nhập vào Thiết Đoàn rút về lập tuyến phòng thủ mới ở Trảng Bôm. Ban ngày đóng quân bên trái quốc lộ, tối đến di chuyển vào vườn chuối, bên phải quốc lộ. Lúc 6 giờ sáng, cả Trung Đoàn lính BV, khoảng hơn 3 ngàn quân di chuyển ngang qua nơi đóng quân khoảng 100 mét. Chúng tôi xóa sổ hết cả một Trung Đoàn hơn 3 ngàn quân. Xác đầy cả mặt đất. Chúng liền điều nguyên một Sư Đoàn có chiến xa T-54 tấn công biển người, và chúng cứ tiếp tục chết. Vì quân BV quá đông, chúng tôi phải gọi máy bay oanh kích, đồng thời rút về căn cứ Long Bình để lập tuyến phòng thủ mới.

Trận này, tôi lại bị thương thêm một lần nữa ở tay phải. Trên đường rút về, tôi nằm trong xe cứu thương M-113 và chiếc xe này bị B-40 bắn cháy, tất cả trong xe chết hết, tôi phóng nhanh ra khỏi xe và nhảy qua đường rầy xe lửa. Đơn vị đến giãi cứu , tôi được đưa về Tổng Y Viện Cộng Hòa điều trị. Được 2 ngày thì Ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Tất cả thương phế binh có người còn máu rĩ ra trong băng phải lết ra khỏi bệnh viện, vì họ đuổi ra hết để có chổ cho lính BV.

“Thế chiến quốc, thế xuân thu, gặp thời thế, thế thời phải thế.”
“Ai công hầu, ai khanh tướng, trong trần ai, ai dễ biết ai.”

Sau khi ra tù , đi đâu cũng phải báo cáo Công An địa phương. Một hôm tôi quyết định đi thăm KO. Sự nhớ thương bất chấp những bất trắc xảy ra cho mình, tôi thức dậy thật sớm để đi Phú Giáo. Tới nơi, tôi gõ cửa, một người đàn ông với giọng Bắc hỏi: “Ông muốn tìm ai?” Tôi nói: “Tôi muốn gặp gia đình của chủ nhà trước ạ.” Ông ta nói: “Chủ trước đã trốn đi nước ngoài rồi.” Tôi thẫn thờ bước ra.

“Khi tôi về, bồi hồi trong nắng, tưởng gặp người em hân hoan đứng đón anh về, nào ngờ người em ra đi khi Xuân chưa tàn, con đò nào đây, đưa em tôi vào xa vắng…”

Lúc ra đi lòng bồi hồi bao nhiêu, khi trở về buồn bấy nhiêu. Tôi cũng thầm cầu mong sao cho nàng ra đi được bình yên. Trên đường về, cũng đoạn đường này, ngày xưa bên KO tôi thấy ngắn, mà bây giờ thì xa dịu vợi! Những hình ảnh thân yêu ngày xưa thi nhau trở về trong tiềm thức với con đường nhiều kỷ niệm. Bản tình ca lúc ban đầu là một sự báo trước của dang dở.

“Tình vui trong phút giây thôi, ý sầu nuôi suốt đời, thì xin giữ lấy niềm tin, dẫu mộng không thành…”

Tôi bắt đầu tính chuyện vượt biển, thứ nhất là xa cái đất nước bây giờ trở thành xa lạ, thứ hai là hy vọng gặp lại được KO ở một nơi nào đó! Thời gian tìm đường vượt biển, có những lúc lang thang ở bến bắc Cần Thơ, có lúc ở lại đêm tại bến bắc Mỹ Thuận, có những buổi chiều buồn thật buồn ở bãi biển Vũng Tàu.

“Nghìn trùng xa cách, người đã đi rồi…Gửi hết về người, chuyện cũ tuyệt vời, chuyện của đôi ta, buồn ít hơn vui…”

Một hôm tôi trở lại Sài Gòn thì gặp một người em họ, con của người Dì, cô hỏi: “Lúc này anh ra sao?” Tôi nói: “Tù về không tìm được việc làm.” Cô em nói: “Chồng em có tàu, đang tìm đường ra đi, anh có thể giúp một tay.” Và chuyến này tôi đi thoát được. Sau bốn ngày, bốn đêm gặp biển yên, chúng tôi đã tới đảo Pulau Bidong ở Mã Lai. Vì là cựu quân nhân, tôi được xếp vào diện ưu tiên một. Ở đảo chỉ có hai tháng, tôi đến Mỹ ngày 16 tháng 7, năm 1981.

Từ đó về sau tôi không còn gặp KO nữa cũng không có tin tức gì về nàng. Một chuyện tình không đoạn kết cách nay gần 40 năm mà tưởng chừng như ngày hôm qua. Bây giờ tóc đã bạc gần nửa mái đầu mà mỗi lần nghĩ đến lòng mình vẫn rộn rã. Tôi cũng hy vọng ở một phương trời nào đó, KO đọc được bài viết này là bằng chứng yêu em! Em yêu! Anh đã xây nhiều mộng đẹp về em nhưng lại xây trên sóng biển, trên cát. Than ôi! Thủy triều đã cuốn hết mộng đẹp của anh đổ vào lòng đại dương chỉ để lại cho anh một nỗi buồn mà không có ngôn từ nào diễn tả, nỗi buồn anh đang mang trong lòng.

“Nếu có khi nào nhớ đến anh”
“Thì xin một phút lặng sau mành”
“Từ nay anh sẽ không yêu nữa”
“Để giữ trong tim một bóng hình”

Hieunguyen11


edited by Hieunguyen11 on 2/5/2012
2/5/2012 7:34:31 PM
Topic:
Chuyện Tình Của Một Phi Công

Hieunguyen11
Hieunguyen11
Posts: 462
Chuyện Tình Của Một Phi Công Lời Giới Thiệu :

Khi ra đi theo "Tiếng Gọi Công Dân" khoác quân phục vài tháng huấn luyện tại quân trường, bất cứ người lính nào cũng phải qua đoạn đường chiến binh. Trên đoạn đường đó người chiến binh phải chạy, nhảy, bò, trườn ,leo trèo... Nhưng đó là đoạn đường của thể lực, tập luyện để một mai bước ra chiến trường hữu dụng.

Người phi công VNCH cũng phải qua hết đoạn đường thể lực để từ trên không cùng với cánh chim tung trời xé gió. Những trận bảo lửa giáng lên đầu giặc để ngăn chận quân thù tiếp cứu đồng đội đang cố sức giữ gìn từng tất đất của cha ông.

Khi đơn độc bay vào nơi khói lửa để tiếp tế cho quân mình mà không ngại hiẻm nguy. Ngoài đoạn đường chiến binh phải vượt qua ở Quân trường , người phi công còn phải vượt qua những thử thách không tên. Hai vai mang nặng nợ nước tình nhà. Thường thì người phi công "đi không ai tìm xác rơi" nhưng cũng có trường hợp không chết người trai khói lửa mà chết người vợ nhỏ đang chờ đợi cánh chim trở về sau một phi vụ hiễm nghèo.

Chuyện tình phi công thời chiến nồng nàn, ấm áp, tuyệt vời. Sáng ra đi chiều trở lại tưởng không còn gì hạnh phúc hơn. Kết cuộc bi thảm của một chuyện tình chỉ trong phút giây mà thành thiên thu. Người phi công về già ngồi nghĩ về cuộc đời tình yêu nợ nước thù riêng và nhớ lại những tháng ngày hạnh phúc, nhớ con chim sắt đã cùng chàng tung mây lướt gió ngày nào...

Thêm một chuyện tình buồn của Kỵ Binh Nguyễn Hiếu. Có phải KB Nguyễn Hiếu luôn ám ảnh Tình đẹp là tình dang dở, tình tuyệt vọng hay tình thiên thu … ?

Ky.Binh NguySaigon


Lời giới thiệu:

Là những chàng trai lớn lên trong chiến tranh, trong cuộc sống không biết được ngày mai, chúng ta chắc hẳn ai cũng đã có một lần chứng kiến hoặc trải qua một cuộc tình đầy những trớ trêu và nghịch cảnh. Chinh chiến đã tạo ra bao nhiêu đổ vỡ và những giòng lệ khóc tiễn nhau chỉ là những an ủi tạm thời cho những người còn ở lại.

Từ những cậu học sinh thơ ngây vì tiếng gọi của núi sông, thi hành nghĩa vụ để làm tròn bổn phận người trai thời chiến. Chúng ta đã trở thành những chiến sĩ oai hùng của QLVNCH, quyết đem xương máu để bảo vệ quê hương, nhưng rồi ngày 30 tháng 4 đã đến như một ván bài định mệnh chấm dứt cuộc đời binh ngũ của chúng ta.

Chúng ta ra đi nhưng không có nghĩa là chúng ta quên tất cả, những kỷ niệm thời xa xưa luôn được nhắc đến mỗi khi có dịp như sợ rằng một mai đời sẽ quên đi. Trong những kỷ niệm đó dĩ nhiên là những mối tình không trọn vẹn mà người trong cuộc đã vẫn giữ mãi trong tâm khảm sau hơn 35 năm làm kiếp lưu vong.

Đây là một câu chuyện có thật và do một sự may mắn, anh Hiếu Nguyễn đã có dịp nghe chính người trong cuộc kể lại và vì quá cảm xúc với những tình tiết của cuộc tình này, anh xin ghi lại với tất cả dè dặt và cảm thông với hy vọng sẽ đem người đọc cùng sống lại qua cuộc tình này.

Xin chia buồn với những đắng cay của quá khứ và với tư cách là một người đã có diễm phúc đọc qua tác phẩm đầy nước mắt này của anh Hiếu Nguyễn, tôi xin mời mọi người cùng thưởng thức.

Xin thành thật cám ơn anh Hiếu Nguyễn, cầu chúc anh thành công

Hung45qs

Chuyện Tình Của Một Phi Công

Những người già thường sống về dĩ vãng. Giờ đây ngồi nhớ về chuyện cũ, tìm lại trong quảng đời đã qua với những vui buồn theo tháng ngày dần phai. Tôi không bao giờ quên được hình ảnh thân thương của một cậu học trò ngày nào trên đường từ trường về nhà, đứng lặng nhìn chiếc máy bay bay qua cho tới khi mất hút ở cuối chân trời. Từ đó tôi ước mơ được tung bay như cánh chim bằng, để rồi trở thành một phi công và đời mình phải gắn liền với nghiệp bay cho tới ngày tàn cuộc chiến.

Nguyện vọng của cha là muốn tôi có một địa vị trong xã hội. Ông có thừa khả năng để nuôi tôi ăn học đến nơi đến chốn. Ông là một đại điền chủ ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, Sa Đéc. Sau khi đậu Tú Tài phần I, trong khi tiếp tục phần II, thì lệnh động viên được ban hành vì quân đội Pháp giao lại cho Quân Đội Việt Nam
. Quân Đội Pháp đang tuyển chọn để đào tạo sĩ quan Không Quân.

Trong số hai mươi lăm người được tuyển chọn vào sĩ quan Không Quân có tôi trong đó. Chúng tôi phải vượt qua kỳ thi viết bằng tiếng Pháp, và phải có một sức khỏe tốt để trở thành Hoa Tiêu tương lai. Tôi thì rất vui vì được trúng tuyển vào Không Quân nhưng gia đình không đồng ý, cha tôi cảm thấy thất vọng vô cùng.

Trước khi sang Pháp thụ huấn vào cuối năm 1955, tôi phải ra Nha Trang bốn tháng để được huấn luyện lớp bay căn bản trên chiếc Morane-500 với một Hoa Tiêu Pháp, lúc ấy người Việt mình hay gọi “máy bay Đầm Già”. Sau 4 tháng, học xong khóa bay căn bản, tất cả khóa sinh trở về Sài Gòn để chuẩn bị đi Pháp học tiếp, chúng tôi được phát đồ của bên Bộ Binh, không đúng tiêu chuẩn của Không Quân. Lúc đó Quân Đội Việt nam còn nghèo vì mới mẻ, chưa có khả năng để đáp ứng nhu cầu. Chúng tôi phải mặc đồ civil để đi xuất ngoại.

Khi biết ngày lên đường sang Pháp, khoảng cuối năm 1955, mặc dù cha tôi không vui lắm nhưng ông cũng đưa cho mười ngàn để sắm sửa và làm lộ phí, số tiền mười ngàn rất lớn vào thời điểm đó, tôi nhớ một tô hủ tíu gõ chỉ có một đồng. Chị tôi nói cần phải mua đồ ấm nhiều vì mùa đông ở Pháp có tuyết, rất lạnh. Chị đã có thời gian ở Pháp. Tôi chỉ ừ hử cho có lệ và tiêu gần hết số tiền trước ngày đi, chỉ mua được hai bộ Veston để qua đó mặc sức mà bay bướm. Cũng vì không nghe lời chị mà sau này tôi bị lạnh te tua đến nỗi ra máu lỗ mũi.

Hai mươi lăm người chúng tôi may mắn được đi phi cơ (vì trước đó các khóa đàn anh phải đi bằng tàu thủy). Chiếc DC-6 cất cánh từ phi trường Tân Sơn Nhất, khi máy bay bắt đầu lấy cao độ và nghiêng về hướng bay, tôi nhìn xuống quê hương để âm thầm nói lời giã biệt và cảm thấy thương đất nước hơn bao giờ hết. Cho dù vật đổi sao dời, quê hương vẫn còn đó, vẫn đợi chờ ngày trở về.

“Nắng nơi đâu cũng là nắng ấm”
“Nhưng ấm đâu bằng nắng ấm quê hương…”

Sau gần năm giờ bay, chiếc DC-6 mệt mỏi hạ cánh đáp xuống phi trường Calcuta, Ấn Độ vào ban đêm để lấy thêm nhiên liệu, rồi bay tiếp qua Karachi, vùng Trung Đông. Từ đó bay đến Damacus rồi đến Nice, miền Nam nước Pháp cũng để lấy thêm nhiên liệu và cất cánh đi Paris, đáp xuống phi trường Orly lúc 10:30
đêm. Sau một hành trình dài 36 tiếng đồng hồ, ai nấy đều mệt mỏi, rã rời. Vừa bước ra khỏi máy bay, mọi người đều lạnh run của một cái lạnh mùa đông Paris, thật đúng như trong bài hát Tiễn Em. “Trời mùa đông Paris, suốt đời làm chia ly…”

Chúng tôi được cấp phát quân trang theo tiêu chuẩn của binh chủng Không Quân Pháp và được huấn luyện bốn tháng để bay loại máy bay STAMP (loại máy bay 2 tầng cánh thời Đệ II Thế Chiến) tại Marrakech, Marocco, một thuộc địa của Pháp, chuyên huấn luyện Không Quân, đây là khóa căn bản Pilot. Khóa này được thụ huấn một thời gian 9 tháng để trở thành Hoa Tiêu thuần túy nhưng vẫn chưa được mang cánh bay. Các khóa sinh được thực tập bay nhào lộn một cách vững vàng. Trong thời gian huấn luyện, chúng tôi cũng được đi phép một tháng nhân dịp nghĩ hè ở đây, ra thành phố Rabat có hải cảng Casablanca rất đẹp và nổi tiếng của Marocco. Hết phép, tất cả trở về trường tiếp tục học cho tới ngày mãn khóa.

Khoảng tháng 9 năm 1956 lại lên đường trở lại Pháp. Đến căn cứ Không Quân AVORD thuộc thành phố Buorge. Ở đây được huấn luyện chuyên môn loại máy bay Marcel Dassaut với thời gian 9 tháng cho tới ngày ra trường và được gắn cánh bay. Đây cũng là khóa cuối cùng cho Không Quân Việt Nam. Trong khóa này có Đại Úy Nguyễn Văn Lượng sau này là Chuẩn Tướng, chức vụ cuối cùng là Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Không Quân đóng ở căn cứ Không Quân Nha Trang, Trung Úy Nguyễn Mạnh Bỗng bay bên Air Viet Nam bị tử nạn, Trung Úy Nguyễn Khắc Ngọc, cấp bậc và chức vụ sau cùng là Đại Tá Tham Mưu Phó Huấn Luyện.

Năm 1957 trở về nước, được bổ nhiệm về bay cho Liên Phi Đoàn I Vận Tải của ngành Không Quân Việt Nam, lúc đó Thiếu Tá Nguyễn Cao Kỳ làm Liên Đoàn Trưởng ở Tân Sơn Nhất. Đặc biệt là tôi vẫn phục vụ ở đơn vị này cho tới ngày tàn cuộc chiến.

Năm 1965 qua Mỹ học bay loại máy bay mới C-123 để chuẩn bị thành lập Biệt Đoàn 83. Nhưng không may vì thời cuộc lúc đó Biệt Đoàn 83 bị hủy bỏ, nên trở lại bay C-47. Nền Đệ II Cộng Hòa lúc đó còn quá mới mẻ, tình hình chính trị chưa được ổn định cho lắm. Mỹ bắt đầu qua nhiều và ngành Vận Tải Không Quân cũng từ từ tiếp nhận những loại máy bay mới như C-123 rồi đến C-130.

Một ngày 1967, lúc này tôi mang lon Đại Úy, được chỉ định bay một chuyến bay loại C-47 (Dakota) cho Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm lên phi trường Liên Khương, Đà Lạt để dự buổi lễ đặt viên đá đầu tiên mới thành lập tỉnh Đơn Dương (Đà Lạt), cùng Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ, ông Kỳ có trực thăng riêng. Lúc đó Phi Hành Đoàn chúng tôi ngồi trong phòng Khánh Tiết của phi trường Liên Khương.

Trong khi chờ đợi Th/T Khiêm và PTT Kỳ trở lại phi trường, ngồi với anh em Không Quân của hai Phi Hành Đoàn trên hai hàng ghế dọc theo tường nói chuyện vui vẻ. Trên bàn có đầy đủ thức ăn, bỗng nhiên tôi thấy một cô gái với một nét đẹp hiền diệu của xứ hoa Anh Đào, được tuyển vào ban tiếp tân của Tòa Tỉnh, đương nhiên phải là một hoa khôi của tỉnh. Cô đang chăm chú sắp bánh Paté Chaud thành hình núi trên đĩa. Lúc tôi ngẫn đầu lên, thì bắt gặp cô đang đặt một cái bánh cuối cùng lên đĩa. Tôi nhìn cô, nhưng cô không để ý, tôi miên man suy nghĩ tìm cách làm quen, nhưng không biết làm sao!

Tôi đánh bạo đến gần cô nói: “Cô ơi, tôi đang đói bụng, cô cho tôi xin một cái bánh được không?” Cô măc cỡ, không trả lời vô tình đụng vài cái bánh văng ra khỏi đĩa, lại càng lính quýnh, cô bỏ chạy ra ngoài cửa. Lúc đó tôi cũng lẽo đẽo theo sau, cô cũng không chủ định được sẽ đi đâu để tránh! Bất ngờ cô xoay lại thì bắt gặp tôi đang ở sau lưng, cô tránh sang một bên và chạy nhanh ngang qua tôi để trở lại phòng Khánh Tiết.

Khi trở lại phòng Khánh Tiết thì không thấy cô đâu nữa, tôi cảm thấy thất vọng và ngồi xuống chiếc ghế cũ. Trong lúc đó phái đoàn của Th/T Khiêm trở lại, tất cả tham dự buổi tiệc. Tôi thò tay lấy ngay chiếc bánh Paté Chaud cuối cùng mà chính tay cô đã đặt lên đĩa lúc nãy, và cầm ly beer lên uống. Hình bóng cô gái đặt chiếc bánh mà tôi đang cầm, từ từ đi sâu vào lòng tôi.

“Cắt nghĩa làm sao được chữ yêu”
“Có nghĩa gì đâu một buổi chiếu”
“Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt”
“Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu”

Nhìn từ xa ở cuối phòng Khánh Tiết, thì bất ngờ tôi thấy phía sau quày rượu có một mái tóc giống như mái tóc của cô ấy, tôi mừng quá đứng dậy đi tới quày rượu, thì đúng là cô. Tôi bắt đầu hồi hộp gợi chuyện và hỏi: “Xin lỗi, tôi tên N, còn cô tên gì?” Cô trả lời: “Dạ, tôi tên Thu Lan.” Được trớn, tôi hỏi tiếp: “Cô cũng tới tham dư buổi tiệc ?” Thì cô ấy e lệ, nhẹ nhàng trả lời: “Tôi ở trong phái đoàn tiếp tân của tỉnh Đà Lạt.” Giọng nói đó đã làm lòng tôi rung động. Tôi từ từ hỏi tiếp: “Vậy cô đến đây bằng phương tiện gì?” Cô nói: “Tôi đi chung với mọi người trên chiếc xe Traction.” Tôi suy nghĩ tìm cách để đưa cô về Đà Lạt bằng máy bay của tôi. Cùng lúc đó Thủ Tướng Khiêm đến tìm tôi nói: “Anh hãy mang máy bay tới Cam Ly, tôi đi trực thăng với PTT Kỳ, ăn trưa xong rồi mới về Sài Gòn.”

Tôi nghĩ thật là trời giúp, đang buồn ngủ mà gặp tấm chiếu manh, đúng với ý định của tôi. Sau khi ông Khiêm quay đi, tôi tới trước mặt cô nói: “Tôi đề nghị với cô là sẽ đưa cô về Đà Lạt.” Cô nhất định từ chối và nói: “Tôi chưa đi máy bay bao giờ, tôi sợ lắm!”

Cô vừa nói, vừa bước ra khỏi quày rượu, tôi cố gắng thuyết phục. Trong khi nói chuyện thì vai tôi đẩy nhẹ vào vai cô, không dám lấy tay, không còn cách từ chối, nên cô đành phải theo tôi ra hướng máy bay. Vì cầu thang lên máy bay hơi cao, tôi đánh bạo dùng hai tay nhấc cô lên. Có một anh trong Phi Hành Đoàn đứng trên giúp kéo cô lên.

Khi vào máy bay, tôi đưa nàng thẳng lên phòng lái ngồi vào ghế Co-Pilot rồi bắt đầu đề máy. Máy bay từ từ taxi ra đầu phi đạo sẵn sàng cất cánh. Sau khi kiểm soát dây an toàn cho nàng, tôi cho tàu từ từ lăn bánh trên phi đạo. Với vận tốc tăng dần hơn, khi thấy đủ sức để cất cánh, tôi cho tàu nhẹ nhàng rời mặt đất và đóng bánh lại , tốc độ tăng dần cao độ, tôi nghiêng cánh hướng về Cam Ly. Phi trường Cam Ly nhỏ, nhiều đồi núi rất nguy hiểm khi đáp xuống. Tàu vừa bình phi, thì thấy phi trường Cam Ly, tôi bắt đầu thả bánh đáp sẵn sàng hạ cánh và cố gắng cho bánh chạm nhẹ nhàng lên phi đạo để nàng khỏi sợ, vì là lần đầu tiên đi máy bay.

Sau khi đáp, tôi cho tàu taxi từ từ vào bãi đậu. Lúc đó có một chiếc xe Jeep của Tòa Tỉnh biệt phái cho Phi Hành Đoàn, anh tài xế ra ngồi phía sau, tôi lái nàng ngồi kế bên, mái tóc nàng bồng bềnh bay trong gió, tôi cảm thấy một niềm hạnh phúc nhẹ lâng trong lòng.

“Ngày xưa gió thổi tóc em bay”
“Quấn lấy hồn ta bao ngất ngây”

Xe dừng lại trước cửa, tôi giúp mang xách tay rồi đưa nàng vào nhà, xong nói đôi lời từ giã và hẹn ngày trở lại. Trên đường trở về phi trường, tôi thấy lòng mình nao nao vì mất đi giây phút thật hạnh phúc bên nàng, giờ đành phải chia tay

“Dẫu chút tình thôi ngày hôm ấy”
“Xa rồi anh nhớ đêm qua đêm”

Về tới Sài Gòn, nhưng trái tim tôi để lại Đà Lạt. Từ đó về sau, những phi vụ đi Đà Lạt hay Cam Ly đều có tên tôi và thường xuyên lên Đà Lạt để gặp nàng. “Ôi bước chân mềm mại, đã đi vào đời người, như từng viên đá cuội, rớt vào lòng biển khơi…” Khi viên đá rơi xuống mặt nước, tạo ra những gợn sống từ từ lan rộng ra, cũng như tình tôi yêu nàng, càng ngày càng thắm thiết hơn.

Có lần đi công tác tới Đài Loan, trên đường về ghé qua Hong Kong được nghĩ 2 ngày, tôi đi mua vài món quà tặng nàng để làm kỷ niệm. Về đến Sài Gòn, vài ngày sau đó có chuyến bay đi Cam ly, và tên tôi được chỉ định để bay chuyến bay này. Lại một lần nữa buồn ngủ gặp tấm chiếu manh, tôi lấy làm vui sướng nhận chuyến công tác này.

Khi tới Đà Lạt, thăm nàng tại nhà, trong tất cả những món quà, nàng thích nhất là con búp bê mở mắt và nhắm mắt được. Nàng vui sướng với con búp bê nhưng đâu biết lòng tôi đang vui sướng hơn nàng. Cũng nhờ con búp bê này mà tôi thấy được trái tim nàng đang rung động.

Tôi nói: “Nhân dịp ghé Hong Kong anh mua ít quà tặng em để được nhìn thấy em vui.” Nàng nói: “Cám ơn anh, em vui lắm, nhưng không phải vì những món quà này, mà vui vì được gặp lại anh.” Nghe những lời nói này, tôi cảm thấy lòng mình dâng lên một niềm hạnh phúc.“Nhìn cuộc tình, đang trôi theo vào dòng đời, và từ đó hai đứa mình yêu nhau…”

Tôi quen nàng từ năm 1967 đến 1968, ông bà nhạt cũng quí mến mình, chúng tôi đi đến hôn nhân. Nhưng tình hình chiến tranh lúc đó đã gia tăng cường độ khắp nơi, phải làm đám cưới, mới đem nàng về Sài Gòn được. Tôi xin được một căn nhà trong cư xá sĩ quan để sau khi đám cưới hai đứa về ở. Nhờ quen biết, tôi đưa nàng vào làm việc bên Air Việt Nam, làm Tiếp Viên Hàng Không. Lúc đó hai đứa sống thật là hạnh phúc bên nhau. Tôi cùng Thu Lan thường đi dự những buổi tiệc do anh em Không Quân tổ chức ở câu lạc bộ Mây Bốn Phương Trời và Huỳnh Hữu Bạc. Thu Lan làm tôi hết sức ngạc nhiên vì có lần nàng tỏ ý muốn hát tặng tôi bài “Tuyết Trắng” và “Đà Lạt Hoàng Hôn” rất hay, tôi thích vô cùng mà sau này mỗi lần nghe 2 bài hát này là tôi nhớ đến nàng.

Thời cuộc đưa đẩy đời binh nghiệp, vì nhu cầu nên tôi phải đi học khóa Tham Mưu Trung Cấp ở Nha Trang, sau đó tôi được vinh thăng Trung Tá. Cô em nàng tên Huệ từ Đà Lạt tới lui thường xuyên thăm nàng trong lúc tôi xa nhà. Cũng thời gian đó có một anh bạn của chúng tôi, anh là Đ/Úy Không Quân tên T. cũng thường lui tới đeo đuổi cô Huệ. Đến ngày mãn khóa, hai chị em ra Nha Trang để dự lễ ra trường. Những ngày lưu lại Nha Trang , chúng tôi cũng có những kỷ niệm thật êm đềm. Tôi đưa hai chị em đi tắm biển, ngắm cảnh Nha Trang, thưởng thức đồ biển, đi chơi cầu Xóm Bóng…

Sau ngày mãn khóa, tôi đưa hai chị em về lại Sài Gòn, Huệ trở về Đà Lạt với ba mẹ. Cô Huệ được bổ nhiệm làm thư ký ở quận Sông Pha. Không may, có một chuyện kinh hoàng xảy ra cho cô. Một tên lưu manh, cô cũng có chút quen biết, chuyên lường gạt mà cô không ngờ trong công việc làm ăn. Lúc đó cô Huệ sắp đính hôn với một anh Tr/Úy Hải Quân vào tháng mười một, 1968. Tên lường gạt đó tên Hoàng, Th/úy Địa Phương Quân, nói với cô Huệ là có một việc làm ăn lớn, anh cần một số tiền khoảng 2 triệu sẽ được lời gấp đôi.

Cô Huệ là một người con rất hiếu thảo, cô muốn trước khi lấy chồng phải có một số tiền để lại cho ba mẹ, số tiền 2 triệu gom góp từ Thu Lan và cô. Ở đời, không ai biết được chữ ngờ. Lúc đó tôi và Thu Lan đang ở Sài Gòn không biết chuyện gì xảy ra cho cô ở Đà Lạt. Theo gia đình kể lại thì ngày hôm đó, tên lường gạt thay vì đưa Huệ vào Cam Ly rồi đi Sài Gòn, hắn lại đưa cô đi lên ấp Đa Thiện, một vùng rất vắng vẻ để hạ sát và lấy tiền cô bằng 3 phát súng vào lưng, cô chết liền tại chỗ. Sự việc xảy ra, nhờ một bé trai khoảng 10 tuổi nhìn thấy, sau này đứa bé cung khai và cuối cùng Cảnh Sát bắt được tên lưu manh này.

Lúc đó tôi đang làm việc ở Tân Sơn Nhất, nghe tin tôi cùng Thu Lan đi ngay lên Đà Lạt để đưa Huệ tới nơi an nghĩ cuối cùng, sau đó chúng tôi trở về Sài gòn. Thấy Thu Lan quá đau khổ, khóc ngày, khóc đêm vì mất một người em thân thương. Tôi bèn an ủi Thu Lan: “Anh có một người anh làm Tổng Trưởng Tư Pháp, ông ấy có thể giúp cho người điều tra làm rõ sự việc để xử thủ phạm.” Thật sự tôi muốn Thu Lan bớt đau khổ chớ sự việc đã rồi.

“Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí.” Một chuyện không may khác lại xảy đến với chúng tôi. Từ Phù Cát, tôi được lệnh phải đi Phan Rang để thưc tập bay một loại máy bay Caribou (C-7) khoảng một tháng, tôi phải xa nhà để nàng nhớ thương. Vì tin một người bạn thân tên T. như đã nói ở phần trên, tôi mới nhờ anh giúp đở Thu Lan trong khi tôi xa nhà. Anh đã có tình ý và thường tới lui với Thu Lan, anh dựng chuyện nói là tôi có bồ, đàn em của anh ngoài đó nói cho anh biết.

Cùng lúc đó là thời gian Mỹ rút quân nên giao cho Không Quân VN ba Phi Đoàn C-7. Tôi rất bận rộn Thu Lan nghe tin tôi có bồ, nàng đòi ra ở chung, tôi nói không được vì rất bận rộn công vụ. Như thường lệ chúng tôi vẫn nói chuyện trên điện thoại, bỗng nhiên tôi cảm nhận được sự thay đổi của Thu Lan qua những lời nói trên điện thoại.

Một ngày cuối tuần bay về Sài Gòn, tôi sang Nha Khai Thác Hàng Không, để đón nàng đi ăn trưa ở một quán nhỏ trong khu vực Nha Hàng Không Dân Sự. Bất ngờ, tôi thấy tên T. bước vào mà từ trước tới giờ tôi thấy hắn không bao giờ vào đây. Hắn đến chỉ chào tôi, tôi thấy hắn mang lon Thiếu Tá, hắn không chào hỏi Thu Lan như trước đây. Tôi nhìn hắn và nói hơi to tiếng: “Anh T. ngồi xuống đây tôi muốn nói chuyện với anh.”

Hắn ngồi xuống thì Thu Lan sợ tôi gây chuyện lớn, nàng bỏ đi ra ngoài xe. Tôi giận quá, đi theo ra mở cửa đẩy nàng vào ghế sau. Thay vì chở về chỗ làm, tôi chở nàng về nhà vì tức giận người đàn bà mà mình yêu mến lại phản bội, dù rằng chưa rõ trắng đen.

Về tới nhà tôi xô nàng vô nhà, không ngờ đầu nàng lại va vào tường chảy máu, nhưng không nặng lắm. Nàng khóc và nói: “Em không ngờ anh lại có hành động vũ phu với em!” Khi nàng nói như vậy, tôi càng nổi nóng thêm định giết nàng, tôi rút súng ra lên đạn, không ngờ cây súng bị cướp cò, nổ lên một tiếng lớn làm cho tôi tỉnh lại.

Cùng lúc đó, tên T. gõ cửa, tôi mở cửa, vì muốn biết rõ ràng đầu đuôi để giải quyết, tôi cho hắn vào. Tôi nói: “Bây giờ giữa ba người hãy thành thật nói cho tôi biết để giải quyết.” Nàng không nói gì, chỉ ôm mặt khóc. Tên T. lên tiếng nói: “Giũa tôi và Thu Lan không có chuyện gì đáng tiếc để anh nghi ngờ, chỉ là tình bạn vì thấy em Huệ mới chết, tôi tới lui với Thu Lan để an ủi mà thôi.” Tôi cảm thấy hơi nguôi lòng đôi chút. Tôi mời anh T. đi ra khỏi nhà tôi.

Sau khi anh T. ra về, Thu Lan nói: “Anh bắt đầu có hành động vũ phu, thôi thì đường ai nấy đi!” Tôi xuống giọng xin lỗi nàng nhiều lần nhưng nàng nhất quyết ra đi. Tôi trở ra Phan Rang với cõi lòng tan nát, tôi bắt đầu mượn rượu để quên đời. Mấy người bạn Pilot Mỹ đêm nào cũng rủ tôi đi uống rượu. Sức và tửu lượng mình đâu bằng họ, đêm nào tôi cũng uống rượu tới khuya, say mềm. Họ đưa về trước cửa, tôi phải bò vào phòng.

Ra căn cứ Phan Rang. Khoảng một tháng sau đó, đàn em cho tôi biết tin nàng đã dọn đồ ra và tới nhà bà chị ở đường Lê Thánh Tôn, Sài Gòn. Xa nàng tôi cảm thấy nhớ nhiều về kỷ niệm, tôi muốn trở lại những ngày đầu quen nàng.

“Ngày xưa gió thổi tóc em bay”
“Quấn lấy hồn ta bao ngất ngây”
“Giờ ôm kỷ niệm, ôm thương nhớ”
“Em đó anh đây sao đắng cay”

Mãn hạn kỳ huấn luyện ở Phan Rang, tôi chuyển về Cam Ranh để bay những phi vụ tiếp tế cho các tiền đồn ở biên giới như Ben Het, Tống Lê Chân, Ba Tơ, Tiên Phước, Thượng Đức....Ở Cam Ranh được một tháng. Thời gian ở đây, tôi tiếp tục đi uống rượu để quên đi những ưu buồn.

“Em ơi lửa tắt bình khô rượu”
“Đời vắng em rồi say với ai”

Sau đó, tôi ra Phù Cát để nhận một Phi Đoàn Của Mỹ giao lại. Thời gian bận rộn này đã làm tôi vơi bớt nỗi buồn phần nào, tôi được giao nhiều trách nhiệm để thành lập cơ sở Phi Đoàn. Sau khi đơn vị tạm ổn định, tôi liền bay về Tân Sơn Nhất ghé thăm một người bạn ở Không Đoàn 33, Phòng Hành Quân. Khi tôi ngồi xuống ghế, thấy có một điện thoại hơi lạ, tôi liền hỏi người bạn, anh cho biết là điện thoại có đường dây trực tiếp qua Air Việt Nam (loại điện thoại đặc biệt khi nhấc lên thì đầu bên Air Việt Nam tự động reo).Tôi bèn nhấc điện thoại lên thì nghe tiếng phụ nữ: “A Lô!” Tôi nói: “Cho tôi xin nói chuyện với Thu Lan được không?” Không ngờ Thu Lan trả lời: “Anh đó hả?” Tôi nói: “Đúng là anh đây.” Thu Lan: “Em cần gặp anh gấp.” Tôi tiếp: “Nghe tin tên T. mua lễ vật để cưới em, anh có món quà để tặng em.” Thu Lan: “Nhưng em muốn gặp anh ngay bây giờ.”

Lúc đó cảm thấy lòng mình quên hết mọi giận hờn, không thể nào từ chối được. Tôi liền lái xe tới chỗ nàng làm. Khi gặp nhau nàng thú thật và nói trong tiếng khóc: “Khi xa nhau, em nhớ thương anh rất nhiều, em không muốn xa anh nữa!” Nghe những lời nói đó nói, tôi cảm thấy thương nàng hơn bao giờ hết.

“Tình ngỡ đã phôi pha”
“Nhưng tình vẫn còn đầy”
“Người ngỡ đã đi xa”
“Nhưng người vẫn quanh đây...”

Tôi lái xe qua Air Việt Nam ngay và cùng nhau đi ăn. Trên đường đi nàng nói: “Vậy thì đầu tháng này em lấy phép 10 ngày để về thăm ba má, ngày 4 Tây anh có đón em tại Phan Rang được không?” Tôi nói: “Dĩ nhiên là phải được, lệnh của Nữ Hoàng mà!”

Từ Phan Rang tôi đưa nàng về Phù Cát và biết trân quí từng giây hạnh phúc của một Tuần Trăng Mật tại đây. “Hôm nay thời gian đứng yên lắng động, cho đôi tình nhân đắm trong giấc mộng...” Thời gian một tuần ở Phù Cát trôi qua chớp nhoáng, tôi phải đưa nàng về Sài Gòn để làm việc. Không hiểu sao tôi cảm thấy lo lắng cho nàng nhiều. Trước khi chia tay trở về Phù Cát tôi nói: “Em à! Bây giờ anh khuyên em nên cẩn thận khi giao du với tên T., hắn có mời em đi đâu em nên từ chối.” Thu Lan nói: “Em biết rồi.”

Trở lại Phù Cát, lúc này tôi rất hăng hái làm việc. Sau một thời gian ngắn tôi trở về Sài Gòn và qua Air Việt Nam rước nàng đi ăn tại một nhà hàng ở trong phi trường Tân Sơn Nhất.

Trong khi ăn thì tôi thấy tên T. Bước vào,vì nàng ngồi đối diện với tôi nên không thấy, tôi nói với Thu Lan: “Tên T. Đến kìa.” Đồng thời tôi quay đầu qua nhìn hắn nói: “Anh có việc gì cần, tôi mời anh ngồi xuống nói chuyện, vì đây là bàn của chúng tôi.” Hắn không trả lời, tự động kéo ghế ngồi kế bên Thu Lan và nói: “Tại sao Lan thay đổi?” Thu Lan trả lời: “Anh T. à, anh N. đã bằng lòng cho tôi ra đi mà, cho dù có thể chiếm được thể xác tôi, nhưng anh không thể chiếm được tâm hồn tôi, vì tâm hồn tôi đã trao chọn cho anh N. rồi.” Tên T. Nói: “Anh chấp nhận như vậy.” Thu Lan nói: “Anh chấp nhận nhưng tôi không thể làm như vậy được. Về làm vợ anh mà tâm hồn tôi đã gởi trọn cho anh N. rồi, nếu tôi chấp nhận lời cầu hôn của anh, thì tôi là một người vợ ngoại tình. Đó là điều mà tôi tối kỵ nhứt.” Tên T. nói: “Đã mua quà cáp để làm đám cưới, tại sao Lan thay đổi?” Thu Lan nói tiếp: “Những gì anh mua sắm để cưới tôi, anh còn đang giữ tất cả, thì đối với những món quà đó, anh có thể cưới 100 người vợ khác cơ mà.” Hắn trầm mặt xuống và nói: “Tôi yêu cầu Lan đến nhà nói với ba mẹ tôi là tại sao Lan từ chối cuộc hôn nhân này.” Thu Lan nói: “Nếu một người đàn ông bị từ chối thì đâu có gì xấu, nhưng đối với người đàn bà thì ngược lại.” Thu Lan xoay qua hỏi tôi: “Anh nghĩ sao về lời yêu cầu của anh T. ?” Tôi nói: “Em nghĩ nếu có thể làm được, thì em cứ làm, anh không cản trở.” Thu Lan nói: “Em sẽ làm nhưng với điều kiện là anh đi với em.” Tôi nói: “Được, anh sẽ đi với em nếu em muốn.”

Sau một phút im lặng, tôi nhìn đồng hồ thấy tới giờ Thu Lan phải trở lại làm việc. Chúng tôi rời nhà hàng. Đi đến thang lầu, tôi bảo Thu Lan : “Thôi em đi làm đi.” Khi ra tới xe, tôi hỏi tên T.: “Anh có quyết định ngày nào chưa?” Hắn nói: “Thôi, đến khi nào thuận tiện, tôi sẽ cho anh biết.” Sau đó mỗi người đi mỗi ngả, lúc đó khoảng 12:00 trưa.

Cùng ngày hôm đó, vào lúc 3 giờ chiều, người bên Air Việt Nam thông báo cho tôi biết tên T. bắn Thu Lan 3 phát súng (cũng giống y chang cô Huệ, em nàng), Thu Lan ngã xuống và bị thương rất nặng, được chở xuống bệnh xá Sài Gòn trên đường Nguyễn Huệ, gần Ty Cảnh Sát Lê Văn Ken, tên T. cũng tự sát bằng cây súng P-38 của hắn.

Sau khi nghe tin, tôi tối tăm mày mặt vì không ngờ sự việc xảy ra như vậy, tôi liền phóng xe vượt qua cả đèn đỏ. Khi tới đó, được nhân viên bệnh xá cho biết trường hợp quá nặng, nên họ đã chuyến nàng đến bệnh viện Chợ Rẫy, tôi cấp tốc chạy vào đó. Vừa bước vô thì Thu Lan hòa lên khóc nức nở, tôi nắm tay nàng và nói vài lời an ủi. Tôi đến gặp người y tá trưởng, lúc đó vào khoảng 7:30 tối, anh bắt tay tôi và nói: “Tình trạng này bác sĩ đã quyết định 8:00 sáng mai sẽ mổ, trường hợp này tôi thấy 10 người chết hết 9, vậy tôi đề nghị nếu ông xin vào bệnh viện Long Bình hoặc Bệnh Viện 3 Dã chiến (Mỹ) thì hy vọng cứu được.”

Tôi trở qua nàng nói thêm vài lời an ủi. Cuối cùng cũng xin cho nàng được vào Bệnh Viện 3 Dã Chiến. Khi đến đó vào khoảng 3:30 khuya, thì nàng được đưa lên bàn mổ ngay do bác sĩ Mỹ thực hiện ca mổ, xong đưa qua phòng Hồi Sinh và nằm đó được 5 ngày rồi được chuyển qua phòng thường để tịnh dưỡng.

Tới ngày thứ 24 Thu Lan được giấy xuất viện, bác sĩ gọi tôi vào nói: “Bệnh này không thể trở lại bình thường được và phải chịu tàn tật suốt đời.” Sau đó tôi đem nàng về Phù Cát, ở đó tôi săn sóc cho nàng được hơn 3 tháng. Trong thời gian ấy, tôi rất là đau khổ vì biết rằng nàng không bao giờ trở lại bình thường, tôi cũng có đôi lời cám ơn bác sĩ của Bệnh Xá Không Quân ở Phù Cát.

Vì công vụ, tôi không thể bên nàng để săn sóc lâu dài như ý muốn mình được, tôi nói với nàng: “Bây giờ anh phải đưa em về Đà Lạt cho ba má chăm sóc kỹ lưỡng hơn.” Khi nghe tôi nói, nàng phản đối ngay: “Em muốn khi chết được bên cạnh anh!” nhưng cuối cùng nàng nghe lời tôi, đồng ý về Đà Lạt.

Trong thời gian này do bác sĩ Việt Nam phụ trách, và ở nhà nhận ra rằng càng ngày nàng càng yếu đi, ba nàng thấy vậy, chở ra Bệnh Viện Đồng Đế, Nha Trang để điều trị. Khoảng thời gian đó tôi rất bận rộn vì đơn vị mới thành lập, không về được. Có một ngày vào lúc 6:00 giờ sáng, chuông điện thoại của tôi reo lên và đầu dây bên kia nói: “Tôi là Tr/Úy Tuyên Úy Tin Lành của Bệnh Viện Đồng Đế, cho tôi xin nói chuyện với ông N.” Tôi trả lời: “Tôi đây.” Ông Tuyên Úy Tin Lành nói: “Bà L.T.Thu Lan đang hấp hối muốn ông về gấp.”

Tôi liền kiểm soát tất cả Phi Đoàn thì không có chuyến bay nào đi Nha Trang.Vào hôm đó vì trời bão. Qua ngày sau, tôi về được Nha Trang và được thông báo thi hài nàng đã được gia đình đưa về Đà Lạt bằng xe, tôi tức tốc bay lên Đà Lạt được (Vì đây là một phi vụ huấn luyện). Khi tôi về tới nhà, thi hài nàng vẫn còn nằm đó nhưng không nhắm mắt. Người em gái nàng kể lại trước khi chết, Thu Lan gọi tên tôi nhiều lần thật thống thiết! Nước mắt tôi tuôn trào. Cha nàng bảo tôi đến vuốt mắt nàng, sau khi tôi vuốt mắt thì Thu Lan nhắm lại.

Người Phi Công ngày nào giờ đây tóc đã bạc trắng cả mái đầu, ngồi viết lại một chuyện tình tuy ngắn ngủi nhưng đầy nước mắt. Có những buổi chiều buồn, người Phi Công ấy ngồi một mình lặng ngắm mây trôi như nhìn vào những kỷ niệm xa xưa trôi dần vào quá khứ, nhưng bóng hình người yêu thỉnh thoảng cũng trở về trong giấc mơ. “Ngày tháng nào đã ra đi, khi ta còn ngồi lại, cuộc tình nào đã ra khơi ta còn mãi nơi đây. Từ một ngày tình ta núi rừng cuối đầu, ôi tiếng buồn rơi đều, nhìn lại mình đời đã xanh rêu...”

“Một chút hương xưa cũng đủ rồi”
“Cho tôi trở lại tháng ngày ơi”
“Để tôi tìm những dòng thơ cũ”
“Mà nhớ mà thương một bóng người”

(Viết xong ngày 16 tháng 7 năm 2011)

hieunguyen11


edited by Hieunguyen11 on 2/5/2012
2/5/2012 7:06:50 PM
Topic:
BỒ TÁT QUÁN THẾ ÂM TRONG LÒNG MẸ TÔI

phuong
phuong
Posts: 2
BỒ TÁT QUÁN THẾ ÂM TRONG LÒNG MẸ TÔI
Thiện Long – Hàn Long Ẩn dịch
.
Mẹ làngười phụ nữ nông thôn thuộc xã hội cũ. Mẹ không biết chữ, không ăn chay, nhưngtrong lòng mẹ luôn hiện hữu hình bóng của đức Đại từ Đại bi Cứu khổ Cứu nạnQuán Thế Âm Bồ Tát.

Hồitôi còn nhỏ, lúc đó làng tôi có rất nhiều người đến xin ăn, mẹ tôi sắm sửa mộtít thức ăn đem đến tận tay cho họ, tuy rằng không nhiều nhưng có thể cứu đóitạm thời. Thời gian trôi qua như vậy, nhà tôi trở thành nơi dừng chân của nhữngkẻ hành khất. Tôi còn nhớ, mùa đông năm ấy tuyết rơi trắng cả bầu trời, từngcơn gió lạnh thổi về buốt giá, một người phụ nữ dẫn con đi qua, người con vừađói vừa lạnh, ngoài kia những bông tuyết vẫn rơi đều trên lá, cảnh vật như vôtình. Đến làng tôi, người phụ nữ kiệt sức ngồi tựa vào gốc cây bất động. Mẹ tôiđang ở nhà, bỗng nghe tiếng trẻ thơ từ gốc cây vọng lại, liền lật đật chạy đếnchỗ có hai mẹ con và đưa họ về nhà. Một tay mẹ đốt cỏ sưởi ấm cho họ, một taypha thuốc cho họ uống, mẹ còn tìm những bộ áo quần khô ấm cho họ mặc. Lúc đó cóngười hỏi mẹ tôi: “Bà làm như vậy là vì mục đích gì?” Mẹ trả lời ngay: “Khôngmục đích gì cả, tôi chỉ làm theo lương tâm mình mách bảo, có Bồ Tát Quán Thế Âmchứng giám là được”.

Saunăm 1958, những kẻ ăn xin đã bớt đi rất nhiều, nhưng thay vào đó là những ngườithợ sửa nồi, sửa giày từng đoàn kéo đến làng tôi. Mỗi lần đến như vậy, họ đềumở sạp hàng ngay trước mặt nhà tôi. Có khi đến bữa cơm không có chỗ ăn cơm, họliền vào nhà tôi ăn. Mẹ tôi tiếp khách như thế nào thì đối đãi với họ như thếấy. Khi đó tôi còn nhỏ, chưa hiểu mô tê gì ráo, nhưng vì những việc như vậy màtôi hay thầm trách mẹ tôi. Mẹ biết và nói với tôi: “Con à, chúng ta mỗi ngườicó mỗi hoàn cảnh khác nhau, họ đều có nỗi khổ tâm riêng, nhất là những ngườiphải xa nhà rày đây mai đó. Anh con cũng như họ, tha phương cầu thực, ngườikhác giúp đỡ anh con, bây giờ mẹ giúp đỡ họ thì cũng chính như giúp đỡ gia đìnhmình vậy”.
Mọingười trong làng đều nói mẹ tôi có tấm lòng Bồ Tát. Những lời nói đó thật khôngngoa chút nào. Mẹ tôi đối với lân lí xóm giềng, bất kể ai gặp khó khăn đều hếtlòng giúp đỡ.

Ở thậpniên 1960, kinh tế trong làng gặp lúc túng quẫn, mọi người đói rách lầm than,mà nhà tôi được cái có mấy anh trai làm việc ở xa thường hay gửi tiền về nhà,nên kinh tế có phần đỡ hơn người khác. Tuy vậy, mẹ tôi không dám ăn, không dámxài, đem tiền cho người ta mượn hết, đến lúc nhà cần tiền để xài thì trong taykhông còn một đồng nào. Nhưng mẹ tôi thà tự xoay xở chứ không bao giờ đến nhàngười ta đòi nợ, trong lòng luôn nghĩ mọi người đang gặp khó khăn hơn mình.
Ngoàira, mẹ còn dùng cây cỏ thuốc để chữa bệnh cho mọi người. Cứ đến mùa hè, bà conlối xóm đau đầu nghẹt mũi đều đến nhà tôi xin thuốc. Mẹ dù rất bận rộn, nhưngvẫn dành thời gian đi nhổ cây cỏ thuốc, đem về rửa sạch và phân ra từng loạirồi chế biến thành thuốc chữa bệnh. Tôi thường giúp mẹ giã và sao thuốc, giúplà giúp vậy chứ tôi chẳng biết thuốc gì là thuốc gì. Có một năm, ở nhà, tôi hỏimẹ làm như thế để làm gì. Mẹ xoa đầu tôi nói: “Nói ra con cũng không hiểu đâu,làng trên xóm dưới cỏ cây đều khô trụi, lấy đâu ra thuốc mà uống?” May mà cuộcsống bây giờ điều kiện vệ sinh tốt, bệnh ghẻ lở bớt đi rất nhiều, hơn nữa bâygiờ có thuốc tây rất công hiệu.

Mẹ ởnhà thường hay hỏi nhà nào gặp khó khăn, ai khổ đau, ai lầm lỡ, trên gương mặtmẹ lúc nào cũng biểu hiện sự lo âu, khắc khoải. Mãi cho đến bây giờ hình ảnh ấyvẫn còn khắc sâu trong đầu tôi. Mẹ làm như cuộc đời này tất cả nỗi khổ củangười khác đều do mẹ tạo ra!
Mỗilần nói xong một câu gì mẹ đều niệm Nam Mô A Di Đà Phật hoặc Quán Thế Âm BồTát. Tôi còn nhớ, ở thời kỳ “Văn Cách”, mẹ thường nói với mấy anh em tôi: “Bâygiờ là thời loạn, xấu tốt bất phân, các con nên làm việc thiện cho nhiều, tuyệtđối không làm kẻ ác nhân, làm ác nhân sau này ắt sẽ gặp ác báo”. Nhờ chúng tôibiết phận nên cũng chưa làm gì xấu xa, nếu không, mẹ tôi ở dưới cửu tuyền sẽkhông yên lòng.

Mẹkhông hiểu Phật pháp nhiều, không biết thiền, chỉ biết niệm Quán Âm Bồ Tát và ADi Đà Phật. Nhưng bà ngoại thì khác, bà là người đọc qua nhiều sách, thiên văn,địa lý cổ kim đều thông, đồng thời là người hướng Phật “Hành sở ứng hành, thọsở ứng thọ, chư ác bất tác, chúng thiện phụng hành”. Mẹ tôi lúc nhỏ đã chịu ảnhhưởng của bà ngoại về đối nhân xử thế. Sau này tôi nghe mẹ tôi kể rất nhiều vềnhững mẫu chuyện thiện ác nhân quả báo ứng, những câu chuyện này thời ấu thơ mẹtôi nghe bà ngoại kể, vì thế mẹ thường nói với chúng tôi: “Phàm làm việc gìphải ngay thẳng vô tư, làm hết lòng bằng chính lương tâm của mình. Đừng bao giờcho rằng người khác không biết việc của mình làm, tuy rằng có thể họ khôngbiết, nhưng Đức Quán Thế Âm Bồ Tát biết”.

Anh emtôi có ngày hôm nay là nhờ mẹ tảo tần hôm sớm nuôi nấng dạy dỗ. Ba tôi thì mộtđời lam lũ, là người nông dân hiền lành chất phát, chỉ biết an phận thủ thường.Mẹ tôi trừ việc lao động chân tay, còn giáo dưỡng chúng tôi trưởng thành. Mẹkhông biết chữ, nên trong cuộc đời đã chịu nhiều cay đắng. Vì vậy, mẹ quyết tâmcho chúng tôi học hành đến nơi đến chốn. Cũng vì việc học của anh em chúng tôimà mẹ phải bán đất bán ruộng không một chút do dự nào, nhưng nhà tôi ruộng đấtchẳng là bao nên mẹ phải thức thâu đêm để may vá kiếm thêm tiền nuôi chúng tôiăn học. Mỗi khi mùa đông đến thì tiếng cọc cạch của chiếc máy may cũ kỹ trongnhà tôi không bao giờ ngừng nghỉ. May mà sau này xã hội thay đổi, nếu không anhem tôi có thể sẽ không được đến trường đến lớp.

Tôinhớ, hồi còn đi học, mẹ sợ chúng tôi thi không được lên lớp, nên mỗi khi kỳ thiđến, tôi thấy mẹ đối trước tượng Quán Thế Âm Bồ Tát đốt hương lâm râm cầunguyện, mong sao cho chúng tôi vượt qua kỳ thi dễ dàng. Lúc đó tôi còn nói vớimẹ mê tín như vậy thì được ích gì, mẹ liền mắng tôi: “Đừng nói tầm bậy! Tâmthành tắc linh. Con nói không có ích gì, vậy tại sao có người học giỏi nhưngthi rớt lên rớt xuống? Con không tin thì thôi, chứ mẹ thì tin lắm!” Nói ra cũnglạ, tôi học thì dốt đặc cán mai, mà hồi đó từ cấp Ι thi lên cấp ΙΙ rất khó, từcấp ΙΙ lên cấp ΙΙΙ càng khó hơn. Toàn huyện chỉ có một hai trường cấp ΙΙΙ, mỗitrường chỉ lấy có hai lớp, nhưng tôi may mắn được lọt vào một trong hai trườngđó, đây có lẽ là lời cầu nguyện của mẹ tôi đã làm động lòng đến trời cao?

Mẹ xachúng tôi đã tám năm, thọ 88 tuổi. Mẹ ra đi thật nhẹ nhàng, chẳng đau ốm gì.Ngày nay, lúc nào nhớ mẹ, tôi đem chuyện Quán Thế Âm Bồ Tát và mẹ kể cho conmình nghe. Bây giờ nghĩ kỹ lại, những việc làm của mẹ tôi lúc còn tại thế hìnhnhư phảng phất đâu đó hình bóng của đức Quán Thế Âm. Mẹ tuy mù mờ về Phật pháp,nhưng trong lòng mẹ luôn nghĩ về điều thiện, cho nên những việc mẹ làm vừa phùhợp với Phật lý, vừa thắm đượm tình người. Đây gọi là “Phật pháp tại thế gian,bất ly thế gian giác”; đồng thời cũng chính là nguyên nhân để chúng tôi nhớ sâusắc về mẹ.


***Ngườisoạn mong quý vị xem hai video clip về Đức Quán Thế Âm bên dưới:
http://www.youtube.com/watch?v=5xJS9mqcu7A
http://www.youtube.com/watch?v=5XCwjqYQ_KU
2/5/2012 6:05:02 PM
Topic:
Thiên Lý và những đoạn thơ rời

Thiên Lý
Thiên Lý
Posts: 58


Tiếc Nhớ



Dù đã mất bóng hình thân thương cũ

Sao tôi còn vẫn mãi nhớ về em

Như mây trời mãi quyện với hương đêm

Mùi ân ái ngất ngây vườn xuân cũ



Còn đâu nữa những tháng ngày ấp ủ

Mộng yêu đương gắn bó tưởng dài lâu

Để tôi giờ nhấm nháp nỗi khổ đau

Trong men đắng của trái tình mục rữa



Cứ tiếc nhớ, còn đâu còn đâu nữa...



TL ( 2010)
2/5/2012 5:40:42 PM
Topic:
Thiên Lý và những đoạn thơ rời

Thiên Lý
Thiên Lý
Posts: 58

Trăn Trối


“Khi tôi chết xin đừng đưa ra biển”
Câu thơ buồn nghe lạnh một niềm đau
Cho tim tôi se thắt nỗi âu sầu
Khi hướng mắt vời trông về quê biển


Lòng tự hỏi biết ai người đưa tiễn
Một mai tôi chết giữa chốn lạ này
Bạn bè xa, thân quyến chẳng gần đây
Hồn cô độc lang thang hoài trong tối


Dời xuống biển hay tìm đường lên núi
Biển không xanh lại tím một màu buồn
Mây ngậm ngùi nhấp nháy giọt mưa tuôn
Núi sừng sững lạnh lùng nhìn giông tới


Tôi đang sống giữa đời mong manh với
Niềm xa quê, xa tiếng nói cội nguồn
Nỗi cô đơn dằn vặt, chán chường luôn
Khiến đôi lúc tôi nghĩ về sự chết


Qui luật đó muôn đời ai cũng biết
Dẫu u hoài , tôi vẫn chẳng âu lo
Dẫu thương quê, không muốn mất tự do
Nên tôi chết, xin đừng đưa ra biển




edited by Thiên Lý on 2/5/2012
2/4/2012 10:10:45 PM
Topic:
Bài Ca Sao

Thiên Lý
Thiên Lý
Posts: 58
Cám ơn anh Mộc Dịch đã viết dòng kẻ nhạc dùm Thiên Lý, và cám ơn lyly đã post lên .
Chúc anh và Lyly luôn vui khoẻ.
Thân mến
TL
2/4/2012 4:07:24 PM
Topic:
Biệt kinh kỳ_Minh Kỳ

lyly
lyly
Posts: 463
Biệt Kinh Kỳ
Nhạc và Lời: Minh Kỳ & Hoài Linh
Soạn Dòng Kẻ: Dương Hồng Kỳ
(Tông C - Thể theo lời yêu cầu của bạn Nguyendangtrinh1911)



2/4/2012 3:58:23 PM
Topic:
Bài Ca Sao

lyly
lyly
Posts: 463
Bài Ca Sao
Nhạc & Lời: Phạm Duy
Soạn Dòng Kẻ: Dương Hồng Kỳ
(Tông D - Thể theo lời yêu cầu của chị Thiên Lý)




edited by lyly on 2/4/2012
2/3/2012 8:53:58 PM
Topic:
Bài Ca Sao

nguyendangtrinh1911
nguyendangtrinh1911
Posts: 40
Bản "Bài ca sao" và "Tình ca hồng" các bạn giới thiệu nghe hay quá !!! Thank đã giới thiệu những bài hát hay lên dòng kẻ
2/2/2012 10:05:38 AM
Topic:
Thơ vui: Vợ chồng đối đáp sau Tết

dbarnard71
dbarnard71
Posts: 18
CHỒNG ÐI LÀM XA
Có một ông chồng kia cưới vợ mới được có vài tháng đã phải lên đường đi công tác xa sáu tháng mới về.
Ðược 5 tháng, bà vợ ở nhà đã lâu không gần chồng nên đâu chịu nổi... bèn gởi cho ông chồng lá thư với nội dung như sau:

Ðám ruộng hai bờ ở đầu mông
Lâu ngày không cấy vẫn để không
Nước non vẫn đủ, cỏ mọc tốt
Nhờ người cày hộ có được không?

Ông chồng đọc xong hiểu ý, vừa tức vừa sợ nên vội vàng viết thư trả lời liền:


Ðám ruộng hai bờ là của ông
Cho dù không cấy vẫn để không
Mùa này không cấy chờ mùa khác
Nhờ người cày hộ chết với ông.

Thơ vợ gởi tiếp:

Ruộng để lâu ngày cứ bỏ không
Hạ đi thu đến sắp lập đông
Cỏ xanh cũng lạnh dần héo úa
Thợ cày đầy rẫy chẳng tính công.

Thư người chồng gửi:

Biết bỏ lâu ngày ruộng trống không
Cỏ dại um tùm mọc mênh mông
Nhưng mà tụi nó cày tệ lắm
Kỹ thuật thua Ông, có biết không ?

Bà:

Về mặt kỹ thuật tôi thích ông
Nhưng mà thể lực ráng nghe không
Ông cày gì để mau mệt quá!
Nhiều kiểu, nhiều pha tôi thỏa lòng.

Chồng:

Uh...mặt kỹ thuật đã lầu thông
Riêng phần thể lực vẫn không xong
Thôi thì đành phải qua Hàn Quốc
Mua sâm bổ lực có được không?

Gởi rồi nhưng ông chồng vẫn thấy không ổn nên gởi tiếp:

Tui đi Hàn Quốc bà ở không
Một tháng sẽ về bà khỏi mong
Nhưng đừng léng phéng cày với cấy
Tui mà biết được chết nghe không

Tui về khi ấy sẽ hóa Long
Làm tròn bổn phận của người chồng
Ngày cày đêm cấy không ngưng nghỉ
Cho bà thoả sức thoả ước mong

Bà vợ nói với anh chồng:

Ruộng ông không cấy cứ để không
Bày đặt đi Hàn với hoá Long
Ruộng đang hết nước làm sao cấy
Bấy giờ còn nước cấy cho xong.

Anh chồng cũng không chịu, gởi lại cho bà vợ:

Cái gì của ông là của ông
Ruộng ông khô nước thì mặc ông
Mùa này không cấy thì mùa khác
Cày cấy lung tung chết với ông.

Bà vợ:

Ruộng vẫn nơi này quá mênh mông
Sao chẳng gieo đi kiếm vài đồng
Ông dzìa vẫn đó chi mà ngại
Mùa ông thu hoạch khỏi tốn công.

Chồng:

Này này ông nói có nghe không
Ruộng ông ông kệ cứ chơi ngông
Khi nào ông rảnh ông gieo giống,
Còn không, kẻ khác cấm cho trồng.

Bà vợ chịu hông nỗi... gửi tiếp:

Ông à .. cỏ dại lên quá mông
Dân cày quê mình cứ ở không
Thôi tui làm phước cho họ cấy
Ông về thu hoạch .. thế là xong.

Ông chồng càng tức giận hơn:

Cỏ dại có mọc lên quá mông
Thì bà vẫn cứ phải để không
Ông mà biết được bà cho cấy
Ông về nhổ sạch thế là .. xong.

Bà gửi:

Ruộng giờ lúa đã cao tới mông
Nhưng mà thuỷ lợi vẫn chưa thông
Quê mình giờ nhiều người nhàn rỗi
Kêu họ thông giùm có được không?

Chồng đáp:

Chưa thông thì cứ để cho ông
Ngày đêm ông vẫn đang luyện công
Thuỷ lợi muốn thông là chuyện nhỏ
Ông về ngày thông .. đêm cũng thông!!!

Ông thòng thêm 1 câu:

Ông về mà ruộng đã được thông
Thì bà chỉ có chết dzí ông
Không thèm cày cấy mà chỉ giữ
Ðể xem thằng nào dám cấy không?

Bà vợ nghe ông chồng nói thế mừng quá tiếp lời như sau:

Ừa, nghe ông nói tui quá mong
Chờ ngày ông về đục cho thông
Ruộng tui mở sẵn chờ ông cấy


Thơ “An Lộc”

anloc viết:

CHỒNG ÐI LÀM XA
Có một ông chồng kia cưới vợ mới được có vài tháng đã phải lên đường đi công tác xa sáu tháng mới về.

Ðược 5 tháng, bà vợ ở nhà đã lâu không gần chồng nên đâu chịu nổi... bèn gởi cho ông chồng lá thư với nội dung như sau:


Thơ vợ gởi:
Ruộng để lâu ngày cứ bỏ không
.........................................




---
Thơ vợ gởi với đề nghị :

"Ruộng để lâu ngày cứ bỏ không (anloc)
Anh biết ... em yêu nghề trồng, nông
Hay em trồng tí cái củ cải
Ngay bên bờ giếng ... anh nhớ không !


Thơ chồng giả nhời :

Thứ củ cải trắng em muốn trồng
Chỉ tự em làm ... cấm muợn công
Chỉ làm mùa này thôi đấy nhá
Vụ Xuân anh về sẽ xung công

HotelYankee
Cùng hung..cực ác

Sưu-tầm Feb. 02, 2012
2/1/2012 8:43:37 PM
Topic:
GIÒNG SÔNG ĐỊNH MỆNH

mocdich
mocdich
Administrator
Posts: 243
GIÒNG SÔNG ĐỊNH MỆNH
Truyện Samurai; Tác giả: Vương Đại Khả

Chương 9:

Mua trà bánh xong, Thạch Xuyên Quang Tư (Ishikawa Koji) trả tiền, cẩn thận gói tất cả bỏ trong hầu bao, vừa đi vừa thả hồn theo mây gió. Anh ta hình như mặc kệ cho những bước chân hoang muốn đưa mình về đâu thì đưa. Thạch Xuyên Quang Tư không chọn đường lớn để đi về nhà như mọi khi mà lại đổi ý chọn một con đường dài vắng vẻ băng qua tại một thôn làng nhỏ bé.
Thạch Xuyên Quang Tư chẳng chút vội vàng, vừa đi vừa thưởng ngoạn, nhìn ngắm cảnh hai bên đường, đầy rẫy những mái nhà lụp xụp. Thỉnh thoảng có một vài người qua lại, đẩy những chiếc xe rơm, một vài trẻ nhỏ ăn mặc lam lũ chạy chơi nô đùa với nhau. Nơi đây không có những lâu đài nguy nga lộng lẫy, thiếu hẳn những ngôi nhà sang trọng của giới thượng lưu. Vì đây chẳng qua chỉ là một thôn xóm lao động của dân nghèo.
Tại chốn sang giàu ở kinh thành, thường thường chủ nhân luôn có kẻ hầu người hạ phục dịch, chẳng bao giờ phải động đến đầu ngón tay vào bất cứ chuyện lớn nhỏ nào trong nhà. Nhưng ở những chốn nghèo nàn như chốn này, nhiều lúc cả vợ lẫn chồng cùng con cái đều phải nài lưng ra làm lụng để kiếm sống qua ngày. Và có không biết bao nhiêu người chỉ sống từng bữa một, ăn cơm trưa mà chưa biết được buổi chiều có cơm ăn hay không? Thạch Xuyên Quang Tư đã được quan sát và so sánh cả hai khía cạnh cuộc đời: giàu và nghèo. Nhiều lúc chàng cảm khái tự thắc mắc, không hiểu phải chăng là trời bất công? Hay phải chăng đó là đời bất công? Hoặc chẳng qua là vì con người ai cũng có số mệnh an bài? Thật khó có ai trả lời được câu hỏi này, mặc dù đâu đó chắc chắn phải có một nguyên do nào. Nhưng điều hiển nhiên ai cũng nhìn thấy rõ là bên cạnh sự sung sướng luôn luôn là sự đau khổ; và bên cạnh nụ cười, luôn luôn là nước mắt…
Đi ngang qua một căn nhà nhỏ gần cuối con đường làng, Thạch Xuyên Quang Tư đột nhiên nghe có tiếng phụ nữ kêu réo:
-Có cướp! Có cướp! Cứu tôi với!
Thạch Xuyên Quang Tư đình bộ (#1) để ý nghe ngóng. Bốn bề lại trở nên ìm lặng như tờ. Chàng nhoẻn miệng cười rồi lại tiếp tục cất bước. Vừa đi được mấy bước, tiếng kêu của phụ nữ vừa rồi lại vang lên như xoáy vào màng nhĩ:
-Xin cứu tôi với! Xin cứu tôi với! Quân ăn cướp muốn giết tôi!
Thạch Xuyên Quang Tư khựng lại một giây, nhưng sau đó lại tiếp tục cất bước đi thẳng một mạch chứ không thèm bận tâm để ý làm gì. Lần này, một giọng đàn ông như “hống” lên:
-Chúng ta hãy đem mụ này ra đường quất cho một trận để làm gương cho cả xóm này!
Tiếng chân dồn dập khua lên sau đó từ phía sau. Theo phản ứng tự nhiên, Thạch Xuyên Quang Tư quay đầu lại ngó. Một nhóm người khoảng 7-8 mạng, đều là đàn ông, tên nào tên nấy trang bị, đeo 2 thanh kiếm, 1 thanh dài, 1 thanh ngắn trên mình. Có 2 gã, mỗi gã một bên, đang nắm giữ một cánh tay của một người phụ nữ tuổi chừng ngoài 30, với vẻ mặt đượm đầy vẻ thê lương, như đang khổ sở, đau đớn vô cùng.
Nhìn thấy Thạch Xuyên Quang Tư, người phụ nữ tưởng chừng như trông thấy cứu tinh, vội vàng la lớn hơn:
-Tráng sĩ, xin cứu tôi với!
Thạch Xuyên Quang Tư nhìn người phụ nữ qua một lượt rồi ngước mặt lên trời cười ha hả. Một gã trong bọn với vẻ mặt dữ dằn nghe khó chịu liền lớn tiếng quát hỏi:
-Tên kia! Mi cười cái gì hả?
Thạch Xuyên Quang Tư chợt ngưng tiếng cười. Mặt chàng bỗng nghiêm lại, giọng lạnh lùng châm biếm:
-Ta cười cho cái vở tuồng đóng quá ư là vụng về của lũ hề tài tử (#2) như các người.
Nghe những lời châm chọc của Thạch Xuyên Quang Tư, gã nọ bỗng nổi cáu, nói như hét lên:
-Mi nói vở tuồng đóng quá vụng, với lại chúng ta là lũ hề tài tử là ý thế nào hả? Mi không giải thích đàng hoàng rõ rệt thì chúng ta hôm nay sẽ bằm mi ra làm trăm mảnh!
Thạch Xuyên Quang Tư điềm tĩnh, vừa phân tích vừ chế nhạo:
-Không biết gươm của các ngươi có đủ sắc bén, các ngươi có đủ tài để làm được chuyện đó không? Hay là toàn những bảo kiếm “cắt bùn như cắt sắt” (#3), của những con khỉ mặc áo giắt kiếm lên mình? Được, để ta nói rõ cho mà nghe để các ngươi khỏi ấm ức. Này nhé, ta vừa đi qua nhà thì nghe tiếng nàng phụ nữ kia cầu cứu. Ta dừng lại thì tiếng cầu cứu im bặt. Ta vừa cất bước thì tiếng y thị lại la lên như lệnh vỡ. Ta dừng lại lần nữa thì tiếng cô ả cũng lại im nữa. Ta bèn bỏ đi thẳng thì cả cô ả với mấy tên đầu trộm đuôi cướp các ngươi lại tiếp tục giở trò. Các ngươi bèn lôi cô ả ra bên ngoài để đóng thêm màn cuối vì biết ta sẽ chẳng vào. Phải chăng những tiếng la là những khẩu hiệu báo tin? Và phải chăng lúc im lặng là để phục kích ta trường hợp ta bước vào “can thiệp”? Cô ả này ăn mặc kể ra khá sang trợng đấy, và nước da cũng trắng trẻo, hồng hào hơn người địa phương ở đây rất nhiều. Và xem ra các ngươi cũng bảnh hơn dân làng ở đây nữa. Chẳng hay các ngươi đây là các Nhẫn Giả thuộc tổ chức nào?
Một tên khác trong bọn cười gằn:
-Giỏi! Mi đã biết thì phải chết.
Hắn ra dấu cho đồng bọn rút gươm ra, cùng nhau tiến lên. Thạch Xuyên Quang Tư với gương mặt lạnh lùng, nói:
-Ta với các ngươi không hề quen biết, không thù không oán. Tốt hơn hết là đường ai nấy đi thôi.
Đám người hung hăng đời nào chịu bỏ qua. Một tên cầm kiếm xông lên, hét:
-Đâu có dễ dàng như vậy được! Coi kiếm đây!
Chỉ thấy Thạch Xuyên Quang Tư khẽ vung tay một cái, gã côn đồ chỉ vừa kịp kêu lêu một tiếng “á” rồi ngã xuống đất chết tốt. Chàng ta nhìn cả đám, thách thức:
-Tên nào muốn thử thì cứ việc xông lên.
Bọn người ai nấy đều thấy rợn góc gáy, trợn tròn há hốc! Chỉ không đầy tích tắc, đối phương vừa có thể ra tay giết chết đồng bọn chúng dễ dàng, lại vừa nhanh đến độ có thể tra ngay kiếm lại vào vỏ sau khi xuất chiêu trước khi địch thủ mình gục xuống.
Đám người không ai bảo ai, quay lưng cắm đầu cắm cổ mà bỏ chạy chứ không dám ở lại thử tài đối phương nữa. Nhưng mới bỏ chạy chưa được mấy bước thì một bóng người từ đâu phi thân nhảy ra hét lên một tiếng thật lớn. Rồi sau đó, từng ánh kiếm lóe lên, từng tiếng rú thảm thiết đồng loạt rống lên. Bọn người, đều lần lượt ngã xuống, nằm yên bất động trên mặt đất.
Còn lại nữ nhân sống sót, mặt cắt không còn lấy giọt máu, người vừa ra chiêu giết bọn người lạnh lùng quát:
-Ngươi muốn sống thì khôn hồn mau cút đi! Hãy về nhà phục dịch cho chồng con thay vì theo những kẻ cô hồn làm những chuyện tồi bại. Hôm nay kể như ngươi hên đó, vì kiếm ta không nỡ giết đàn bà con gái.
Người phụ nữ nghe nói quay lưng bèn quay lưng chạy như bị ma đuổi, thoáng chốc đã mất dạng. Bây giờ Thạch Xuyên Quang Tư mới có dịp nhìn rõ mặt người phóng ra đưa đám người kia vào tử địa kia. Hắn ăn mặc theo lối võ sĩ đạo, tuổi trạc 30, nét mặt không xấu xí nhưng trông cực kỳ khắc khổ. Đôi mắt sáng như sao, đôi mi xếch ngược trông vừa oai vừa dữ.
Võ sĩ đạo nhìn Thạch Xuyên Quang Tư nói:
-Đã từ lâu nghe tiếng Thạch Xuyên Quang Tư là một truyền nhân khét tiếng của Linh Mộc Đại Địa (Suzuki Daichi), nay được trông thấy tận mắt, quả nhiên danh bất hư truyền. Kiếm pháp của ngươi quá ư là tuyệt diệu. Những tên này vô lễ với ngươi, có mắt mà không nhìn thấy thái sơn nên ta thay ngươi xử trị chúng rồi.
Thạch Xuyên Quang Tư cất tiếng hỏi:
-Ngươi là ai?
Võ sĩ đạo đáp:
-Thái Điền Chân Nhị (Outa Shinji)!
Thạch Xuyên Quang Tư gật đầu:
-Được nghe đại danh đã lâu!
Nhìn Thạch Xuyên Quang Tư chằm chặp, Thái Điền Chân Nhị nói:
-Thạch Xuyên Quang Tư! Ta rất ngưỡng mộ kiếm pháp, tài nghệ của ngươi. Chỉ tiếc là chưa có dịp kết bạn đã phải ra tay giết ngươi rồi.
Thạch Xuyên Quang Tư cười nhạt:
-Mới đây đám người kia đòi giết ta, giờ lại tới phiên ngươi! Không hiểu sao tự dưng ta lại có nhiều thù địch như vậy? Mà ta đã gây thù oán với ai bao giờ chứ? Nhưng mà tại sao ngươi phải giết ta? Giữa chúng ta chưa hề gặp mặt, chưa hề có chút ân oán.
Thái Điền Chân Nhị nhún vai:
-Đúng là như vậy. Nhưng đã sống trong giang hồ, hay nói chung sống trên đời, ngươi đâu cần phải gây thù chuốc oán mới có thù địch chứ? Nhiều lúc ngươi chưa biết kẻ đó là ai mà hắn vẫn muốn giết ngươi như thường.
Thạch Xuyên Quang Tư vừa định lên tiếng thì Thái Điền Chân Nhị bỗng nghiêm nét mặt lại, giọng như đanh thép:
-Chỉ vì có người muốn ngươi phải chết, trả tiền ta để làm chuyện đó thôi chứ chẳng vì lý do gì khác cả.
Thạch Xuyên Quang Tư phá lên cười, nói:
-À, thì ra đó chỉ là lý do nghề nghiệp của ngươi! Ta hiểu, ta rất thông cảm.
Thái Điền Chân Nhị rút kiếm ra thủ thế, nói:
-Ngươi đã hiểu thì tốt lắm. Nói để ngươi rõ, đám người kia quyết hạ sát ngươi cũng do người bỏ tiền thuê đó. Ta không thể để chúng giành công hay ngăn cản ta thi hành nhiệm vụ được, đồng thời ta cũng chẳng ưa gì phường thảo khấu côn đồ cướp cạn nên mới ra tay đó thôi.
Nhìn Thạch Xuyên Quang Tư, Thái Điền Chân Nhị lại hỏi:
-Ngươi có điều gì trăn trối cứ nói. Nếu lỡ giết chết ngươi rồi ta sẽ cố mà thành toàn cho.
Thạch Xuyên Quang Tư đáp:
-Nếu chẳng may ta chết dưới tay ngươi thì xin ngươi đem xác ta về Linh Mộc Gia Trang giao cho người ở đó.
Thái Điền Chân Nhị gật đầu:
-Được, ta sẽ làm theo lời ngươi. Giờ hãy rút kiếm ra đi. Ta cho ngươi một cơ hội công bằng giao đấu.
Thạch Xuyên Quang Tư cười, hỏi:
-Nhưng nếu rủi ngươi thua thì sao?
Thái Điền Chân Nhị lạnh lùng, đáp:
-Thì tùy ngươi xử trí. Bây giờ chúng ta bắt đầu được rồi!
Thạch Xuyên Quang Tư biết không thể tránh đụng độ liền rút gươm khỏi vỏ thủ thế, mắt không rời tay cầm kiếm của đối phương. Thái Điền Chân Nhị hét lên một tiếng xông tới, nhắm cổ Thạch Quang Tư chém mạnh một nhát như trời giáng. Thạch Xuyên Quang Tư bình tĩnh, vung kiếm lên gạt mạnh một cái rồi khẽ nhảy sang một bên thủ thế. Thái Điền Chân Nhị lại vung kiếm tới tấn công liên tiếp không ngừng. Nhưng Thạch Xuyên Quang Tư bình tĩnh vô cùng, gặp hư chế hư, gặp thực phá thực. Hai bên đánh nhau mấy chục hiệp mà Thái Điền Chân Nhị vẫn chưa thắng được một thế. Trong khi đó, Thạch Xuyên Quang Tư chỉ thủ chứ chưa hề phản công lại.
Thái Điền Chân Nhị đột nhiên lùi lại ra sau mấy bước, sau đó tra kiếm vào vỏ, nói:
-Ngươi đi đi!
Thạch Xuyên Quang Tư lộ vẻ ngạc nhiên, hỏi:
-Chẳng lẽ ngươi đổi ý, không muốn giết ta nữa?
Thái Điền Chân Nhị đáp:
-Chẳng qua ta tự lượng sức mình không giết nổi ngươi đó thôi. Ngươi quả là kiếm thủ lợi hại nhất từ trước tới nay ta chưa hề gặp qua.
Thạch Xuyên Quang Tư cười, tra kiếm vào vỏ, nói:
-Trên đời này còn thiếu gì những cao thủ mà ngươi chưa gặp.
Thái Điền Chân Nhị gật đầu:
-Ngươi nói rất đúng.
Thạch Xuyên Quang Tư lại nói:
-Ngươi không giết nổi ta đã đành. Nhưng nếu ta muốn thắng ngươi, chuyện đó chắc cũng không phải dễ, đúng không?
Thái Điền Chân Nhị gật đầu:
-Điều này cũng rất chính xác.
Thạch Xuyên Quang Tư hỏi:
-Ngươi bỏ qua không truy sát ta nữa thì ta rất cám ơn. Nhưng ta nghĩ mà lo lắng cho ngươi không ít đó. Rằng sau khi bỏ qua cho ta thì liệu chủ nhân ngươi, người thuê giết ta có dễ dàng gì để yên cho ngươi không? Ngươi cũng biết hình phạt của võ sĩ đạo khi không hoàn thành nhiệm vụ là sao rồi chứ?
Thái Điền Chân Nhị thản nhiên đáp:
-Ngươi đừng quên, ta là một Võ Sĩ Đạo kiêm Nhẫn Giả (#4). Không làm xong nhiệm vụ thì ta trả tiền lại là xong. Không có chuyện ta phải tự sát để bảo tồn danh dự đâu. Vì ta quan niệm đã chấp nhận làm sát thủ thì dĩ nhiên phải tán tận lương tâm mà làm rồi. Mà đã tán tận lương tâm thì còn nói gì đến danh dự nữa? Và đã là vậy thì có danh dự đâu để phải bảo tồn chứ? Cùng lắm là chỉ mất chút uy tín trong việc làm ăn thôi. Nhưng chẳng sao cả, không có mối này thì ta cũng sẽ có những mối khác, lo gì. Người thuê ta nếu không thỏa mãn thì có quyền bỏ tiền thuê người khác giết ta cho hả giận chứ bắt ta phải tự sát vì không làm xong nhiệm vụ cho hắn thì chỉ là chuyện hoang đường không bao giờ có đâu.
Suy nghĩ vài giây, Thái Điền Chân Nhị nói tiếp:
-Nhưng nếu kẻ nào mướn người giết ta mà không thành công thì tới phiên ta tới “hỏi thăm lại sức khỏe” đó!
Thạch Xuyên Quang Tư cười lớn:
-Ngươi có tự nhận thấy rằng hơi khắt khe đó không? Bao nhiêu người có thân nhân chết dưới tay ngươi không lẽ không có quyền trả thù bằng cách này cách khác?
Thái Điền Chân Nhị dửng dưng:
-Dĩ nhiên những ai có người thân bị ta giết có quyền trả thù. Nhưng ta cũng có quyền tự vệ, và quyền trả đũa nếu họ không giết nổi ta. Vì ta tuy giết người thân của họ nhưng chưa hề có ý giết họ. Nếu họ đòi giết ta tức là gây thù gây oán với ta rồi còn gì.
Thạch Xuyên Quang Tư nói:
-Lý luận kiểu sát thủ như ngươi thì oán thù sẽ còn chồng chất đến bao giờ mới chấm dứt?
Thái Điền Chân Nhị lạnh lùng:
-Đôi tay ta đã nhuộm đầy máu rồi. Nếu lỡ phải nhuộm thêm thì cũng đành thôi, cũng chẳng là chuyện lớn phải bận tâm. Sống ở đời, chuyện xảy ra đến đâu thì ta từ từ tính đến đó thôi.
Thạch Xuyên Quang Tư lại hỏi:
-Giả sử như ta để bụng chuyện này, mai sau tìm ngươi “trả thù” thì sao?
Thái Điền Chân Nhị đáp:
-Dĩ nhiên ngươi có quyền. Nhưng nếu ngươi có ý định đó thì ta cũng sẵn sàng đón tiếp.
Thạch Xuyên Quang Tư cười nhạt:
-Ngươi liệu đường mà bảo trọng. Ta rất có thể làm chuyện đó.
Thái Điền Chân Nhị bỗng đổi sang đề tài khác, hỏi:
-Ta chắc ngươi rất muốn biết người nào thuê ta giết ngươi lắm phải không?
Thạch Xuyên Quang Tư xua tay:
-Dĩ nhiên ta rất muốn biết, nhưng ta sẽ không hỏi tên người nào thuê ngươi giết ta đâu, vì ta thừa hiểu có hỏi ngươi cũng không nói.
Thái Điền Chân Nhị nói:
-Dĩ nhiên, vì uy tín trong nghề nghiệp ta không thể nói được. Vì nếu nói ra thì ta mất hết uy tín còn gì.
Thạch Xuyên Quang Tư hỏi:
-Ngươi thật sự chắc chắn không hối tiếc đã để ta đi hôm nay?
Thái Điền Chân Nhị đáp:
-Nếu ta mà hối tiếc thì ta không phải Thái Điền Chân Nhị. Mà ta không muốn ngươi đi cũng chẳng được. Ta sức nào cầm chân ngươi nổi?
Thạch Xuyên Quang Tư bật cười, nói:
-Ta có điều này muốn nói với ngươi là làm sát thủ như ngươi, trên đời này ta chỉ mới thấy có một người! Kể ra ngươi cũng là một “quái nhân” đó. Hẹn tái ngộ, gặp ngươi sau!
Dứt lời, Thạch Xuyên Quang Tư quay đầu bỏ đi thẳng một mạch mà chẳng thèm để ý sau lưng làm gì.

Chú thích:

(#1) Đình bộ: dừng bước.
(#2) Hề tài tử: ý nói không phải “hề chuyên nghiệp”.
(#3) Nguyên văn là “cắt sắt như cắt bùn” ý để diễn tả bảo kiếm sắc bén. Ở đây Thạch Xuyên Quang Tư nói ngược ngạo để chế nhạo địch (cắt bùn như cắt sắt).
(#4) Nhẫn Giả: Ninja. Nhẫn Giả giống Võ Sĩ Đạo ở chỗ được huấn luyện tài nghệ như võ thuật, kiếm thuật, ngoài ra còn có thêm nhiều tiểu xảo như phóng ám khí, hóa trang, trá hình ẩn dạng, hay thay dạng để đột nhập nơi nào cần thiết… Nếu Võ Sĩ Đạo cả đời chỉ phục vụ, thờ một tôn chủ (thường là Lãnh Chúa) thì Nhẫn Giả trái lại, chỉ phục vụ cho ai bỏ tiền mướn mình, và chỉ trung thành với thủ lãnh trong tổ chức của mình mà thôi. Những dịch vụ của Nhẫn Giả bao gồm: giết mướn, dò thám mướn… Có thể nói Nhẫn Giả là những sát thủ (kẻ giết mướn) kiêm gián điệp thời đó. Có rất nhiều Nhẫn Giả xuất thân là Võ Sĩ Đạo và ngược lại.

(còn tiếp)
2/1/2012 12:09:54 AM
Topic:
Người Việt chào nhau

Giolangthang
Giolangthang
Posts: 73
Người Việt chào nhau
Đi ra khỏi xứ từ lúc mặt còn có mụn râu ria lơ thơ vài sợi trên cằm giờ sói đầu về lại VN kỳ vừa qua tui có rất nhiều khi lúng túng và khó chịu cho cái chuyện mà xưa nay tui không bao giờ nghĩ tới.


Đó là chào nhau buổi sáng. Mỹ nó kêu là Good morning hay Nhật nói Ohayo vậy đó.
Sáng sớm thức dậy đi ra trước nhà gặp ông già vừa đi tập taichi về tự dưng đâm ra ú ớ chẵng biết nói cái chi. Lẻ dỉ nhiên là không thể Good morning được rồi. Lại cũng chẵng có ngu đến độ phải nói Chào Ba buổi sáng. Hay là Thưa Ba?
Thấy chưa? kỳ kỳ phải hong?
Mà tui cũng đâu có khờ đến độ phải hỏi mấy cái câu nghe thiệt là ngớ ngẫn thay cho tiếng chào hỏi như Ba mới về? Thì ổng về mình mới thấy còn hỏi chi nữa?



Hay là ngu hơn nữa nếu nói Dzậy sớm vậy Ba? Già rồi thì phải dậy sớm chứ sao? Hỏng dậy sớm là đi luôn đó !
Đó là chỉ mới có ông già, còn cảm thấy đở đở ngượng miệng, dù sao mình cũng còn hy vọng là ổng chẳng còn có...nghe. Quay vô nhà gặp con nhỏ em dâu đang đi ngược chiều lại...Ồ ồ cái này thì kẹt thiệt đây. Mình chào nó bắng cái gì? Hỏng lẻ bằng tên :
Chào Hoa chào Cúc chào Mai?
Nghe không được tự nhiên ha !
Mà nếu
- Đi đâu đó?
Rủi nó đang trên đường tới phòng tắm thì có phải là cái thằng cha này vô diên không? Nó lại phải trả lời làm sao? Hỏng lẻ Tui đi tè?
Rồi vô trong bếp gặp chị người làm đang lom khom pha cà phê, thì sao đây?
- Pha cà phê hả chị?
Hỏng được đâu, bộ mù sao ma hỏng thấy?
Vậy cái này:
- Chị Ba làm gì đó?
Đúng là mù!
A hay là bắt chước kiểu Mỹ :
- Chị Ba bửa nayđẹp quá !
Cái này thì cầmchắc là ở lại VN mà thành anh Ba luôn.

Bực mình thiệt đó, tui phải nói làm sao đây?
Bỏ đi ra quán cóc đầu ngỏ gặp bà chủ quán beo béo mập mập.Thì sao?
- Mở cửa sớm dậyem?
Lại khùng, sớm gìnữa người ta bán buôn hồi mặt trời chưa lên. Trưa trờ trưa trật rồi cha !
Thôi thì bắt chước thằng em :
- Ly cà phê sửa nha.
Ủa? vậy hả? Hỏngcó chào chiếc gì sao?


Cái tiếng"Hi" của Mỹ vậy mà được việc. Đúng là tụi Mỹ kinh thật ! Chẵng gì cứ hi hi vui vẻ cả ngày.


Hoàng Duy Liệu
edited by Giolangthang on 2/1/2012
1/29/2012 8:49:06 PM
Topic:
Biệt kinh kỳ_Minh Kỳ

nguyendangtrinh1911
nguyendangtrinh1911
Posts: 40
Chào anh Hồng Kỳ ! đầu xuân xin chúc anh cùng gia đình và mọi người trong dòng kẻ nhiều sức khỏe và nhiều tiền. Nhân đây cũng nhờ anh soạn lại giúp 1 bản nhạc xưa .
Do là em có tìm được 1 tờ nhạc xưa bản Biệt kinh kỳ của NS Minh Kỳ, nhưng đáng tiếc chỉ có tờ 1 thôi, còn tờ 2 của bản nhạc thì bị thất lạc mất rồi .Nên em gửi anh Kỳ tờ 1 bản nhạc này kèm ca từ và file mp3, nhờ anh dựa vào bản nhạc note của tờ 1 mà soạn nốt phần còn lại của bài nhạc giúp em nhé. Cũng là tông C như cũ nhé kèm hợp âm. Cám ơn anh
_____________________________________
Biết kinh kỳTác giả: Minh Kỳ

Bạn ơi ! quan hà xin cạn chén ly bôi
Ngày mai tôi đã đã đi xa rồi
Thành đô lưu luyến chắn bước chân tôi
trước giờ chia phôi mấy ai không bùi ngùi
kỷ niệm buồn vui mãi ghi trong lòng tôị

Rồi đây mai này ai hỏi đến tên tôi
Bạn ơi ! hãy nói "khoác chiến y" rồi
Người thư sinh ấy đã xếp bút nghiên
giã từ trường yêu với bao nhiêu bạn hiền
có về là khi nước non vui bình yên.

Nhớ lúc lên đường đưa tiễn chân tôi,
Thương lên khoé mắt mẹ nhắn đôi lời,
Diệt thù lập công cho xứng tài trai,
Sắt son ghi lòng chớ phai

Ai đi chinh chiến xây đắp tương lai,
Con đi chinh chiến để nước yên vui
Lời mẹ hiền khuyên nguyền khắc trong tim
bao giờ dám quên.

Bạn ơi ! khi nào ai hỏi đến tên tôi
Đời tôi lính chiến cánh chim tung trời
Ngày nào khi đất nước hết binh đao
giữa đoàn hùng binh có tôi đi hàng đầu,
trở về thành đô nắm tay ta mừng nhau
1/28/2012 11:09:59 PM
Topic:
HOA XƯƠNG RỒNG

Hieunguyen11
Hieunguyen11
Posts: 462
Bài thơ hay quá! Thật ngôn ngữ VN phong phú vô cùng!
1/28/2012 8:22:58 PM
Topic:
HOA XƯƠNG RỒNG

lyly
lyly
Posts: 463
Bài thơ cho hoa Xương Rồng hay quá anh Mộc Dịch! Cám ơn anh.

Lyly
1/27/2012 11:50:12 PM
Topic:
HOA XƯƠNG RỒNG

mocdich
mocdich
Administrator
Posts: 243
HOA XƯƠNG RỒNG

Vươn mình, tự dãi nắng dầm sương,
Náu ẩn hoa xinh đẹp sắc hương.
Gương sáng rọi in hằn đá sỏi,
Gốc gai buồn xóa gợi yêu thương.
Thương yêu gợi xóa buồn gai gốc,
Sỏi đá hằn in rọi sáng gương.
Hương sắc đẹp xinh hoa ẩn náu,
Sương dầm nắng dãi, tự mình vươn.

Mộc Dịch

*Đọc xuôi ngược như nhau
1/27/2012 5:26:22 PM
Topic:
Bánh giầy làng Gàu - Món quà dâng vua Tổ

lyly
lyly
Posts: 463
Chả Gà

Vật liệu:

  • 2 lbs chicken breast (bỏ da)
  • 3 tablespoons dầu ăn
  • 15 teaspoons nước lạnh
  • 15 teaspoons instant mashed potatoes
  • 15 teaspoons nước mắm (hoặc ít hơn tùy ý)
  • Optional: Mở heo luộc rồi cắt hạt lựu
  • Tiêu hột và tiêu xay (tùy ý)
  • 1 gói bột nổi Lavure màu hồng(mua ở chợ VN), hoặc bột baking soda thay thế cũng được.

Cách làm:
  • Cắt gà thành từng miếng vuông nhỏ
  • Mở heo: luộc rồi cắt hạt lựu (optional)
  • Bột khoai tây + nước mắm +nước khuấy đều
  • Trộn đều vào thịt gà, ướp thịt trong tủ lạnh qua đêm
  • Hôm sau đem ra xay
  • Cách xay thịt:
  • - Bấm “On” rồi đếm từ 1 – 20 (theo tốc độ đều vừa)
  • - Lập lại như trên 4 lần (tất cả khoảng 80 tiếng đếm)
  • Quét một lớp dầu lên dĩa,bỏ thịt đã xay vào dĩa
  • Xoa dầu lên tay rồi vo thịt đã xay thành thỏi dài
  • Cho vào xửng hấp, 1 mẻ hấp khoảng 10 phút từ khi nước sôi
  • Thịt chín thì có thể gói giấy bạc, cất vào freezer để dành, khi ăn đem chiên lại cho hơi vàng, nếu thích.
Có thể dùng thịt xay (không hấp) để nấu canh, hay nấu món gì tùy thích.
Chả gà cũng có thể dùng để ăn với bánh giầy (nếu không có sẳn giò lụa, nhưng
nếu mọi người ăn không thấy ngon như ở tiệm thì đừng có nhằn Lyly nha
).

Lyly




(photo: wikipedia)
edited by lyly on 1/30/2012
1/27/2012 5:26:21 PM
Topic:
Bánh giầy làng Gàu - Món quà dâng vua Tổ

lyly
lyly
Posts: 463
Hieunguyen11 wrote:
Lyly làm xong, gởi qua vài chiếc ăn thử. Nếu ngon thì anh học làm. Bánh nhìn thấy ngon quá !


Dạ, không dám đâu. Anh Hiếu là vua đầu bếp ở HQPD rồi, em không có dám múa rìu qua mắt thợ.
Nếu mấy anh mà ở gần thì Lyly cũng sẽ ráng trổ tài làm bánh cho mấy anh thưởng thức. Ở xa quá thì phải tự ra tay vậy.
Ở SGG này mọi người không biết chứ anh Mộc Dịch nhà mình cũng là một tay đầu bếp thứ thiệt đó chứ.
Để tối rãnh Lyly sẽ post cách làm chả gà cho anh Hiếu ăn nữa nghe.

Lyly

edited by lyly on 1/30/2012
1/27/2012 4:46:22 PM
Topic:
Bánh giầy làng Gàu - Món quà dâng vua Tổ

mocdich
mocdich
Administrator
Posts: 243
lyly wrote:
Anh Mộc Dịch thân,

Hôm qua nói chuyện với anh Mộc Dịch, nghe anh nhắc đến mẹ của anh khi xưa thường làm bánh giầy (bánh dầy) vào những dịp Tết.
Lyly có bà chị dâu người Bắc nên hôm nay đã hỏi được cách làm cho anh Mộc Dịch đây. Anh không cần phải mua cối đá để giã xôi cầu kỳ như
người dân làng Gàu, cách làm ở đây thì đơn giản hơn. Nhưng có lẽ là không ngon bằng rồi...đành chịu thôi.

Khi nào có dịp về VN, anh Mộc Dịch ráng đi Hưng Yên để nếm thử cái bánh của họ xem nó ngon đến cỡ nào nghe.
Đây là cách làm bánh giầy Lyly mới học:

Vật liệu:
- 1 gói bột nếp
- 1 hoặc 2 tablespoons dầu ăn
- 1 teaspoon muối
- Nước ấm (không có phân lượng)
- Lá chuối (rửa sạch cắt hình vuông) hoặc wax paper để lót bánh
- Nhân bánh: Giò lụa (chả) hay làm nhân đậu xanh (*)

Cách làm:

1. Cho gói bột vào thau. Lấy ra khoảng 1/2 chén bột khô để dành riêng, phòng trường hợp khi nhồi bột bị hơi nhão thì dùng nó để chửa.
2. Trộn chung dầu, muối vào với bột cho đều.
3. Chế từ từ nước ấm vào thau bột, nhồi bột cho đến khi dẽo.
(Lượng nước không nhất định, chỉ làm sao cho vừa để nhồi bột, bột dẽo mà khô là được.)
4. Chia bột ra từng cục nhỏ, ép giửa lòng bàn tay cho ra hình tròn. Sắp lên lá chuối đã cắt vuông sẳn.
5. Cho bánh vào xửng (cái chỏ) hấp chín. Từ lúc nước sôi cho đến khi bánh chín là khoảng 10 đến 15 phút.
6. Khi bánh chín lấy ra để nguội. Bánh chín sẽ nở to hơn lúc sống một chút nên để ít khoảng cách giửa các bánh.
7. Cắt giò lụa (chả) thành từng khoanh, kẹp vào giữa hai miếng bánh.

(*) Cách làm nhân đậu xanh:

- Ngâm đậu xanh bằng nước ấm qua đêm, hoặc ít nhất 3 tiếng
- Hấp đậu xanh trong chỏ (xửng hấp, có lót một lớp vãi mùng), cho đến khi chín mềm.
- Xay đậu xanh cho mịn bằng máy xay, hoặc dùng vá tán đậu xanh cho nát mịn thành bột.
- Dầu + muối + hành phi + tiêu xay + thịt ba chỉ (luộc và xắt chỉ, optional): trộn chung tất cả vào với đậu xanh.
(Phân lượng của gia vị vừa chừng thôi, tùy theo số lượng của đậu xanh).
- Viên đậu xanh thành từng cục nhỏ.
- Dùng bột đã nhồi ở trên (step #4) bọc viên đậu xanh lại.
- Hấp bánh theo như step 5 & 6 ở trên.

Thân chúc anh Mộc Dịch thành công!

Lyly


Wow! Thật là quý hóa, cám ơn Lyly nhiều nhe!
1/27/2012 9:31:58 AM
Topic:
Cám ơn Lyly và anh Hồng Kỳ

samsara
samsara
Posts: 90
Cám ơn Lyly và anh Hồng Kỳ đã soạn dòng kẻ cua bài nhạc Tình Ca Hồng, thật là quý!

Home » Recent messages





Powered by AspNetForum 6.5.7.0 © 2006-2010 Jitbit Software